Xe bò chạy chậm, khi đến huyện bên cạnh thì đã quá trưa.
Khi đi ngang trấn gần thôn Tiểu An, Tiền thị bảo dừng xe ở đầu đường, bà muốn vào thị trấn mua ít đồ.
Lưu Nha Nhi đòi đi cùng, Tiền thị tùy nàng.
Tiền thị nghĩ từ sáng đến giờ xóc nảy suốt một đường, nha đầu chắc đã mệt mỏi rồi, để nàng xuống đi bộ một chút cũng tốt.
Hỏi đường rồi tìm đến quầy thịt, bà mua hai cân thịt ba chỉ, chặt hai khúc sườn. Mua thịt xong lại sang tiệm bên cạnh cân một cân đường đỏ.
Nghĩ nghĩ một chút, bà dắt Lưu Nha Nhi vào tiệm vải, mua mấy thước vải nhuộm chàm. Cuối cùng khi ra khỏi khu chợ, lại mua thêm vài gói bánh ngọt.
Từ khi xuyên đến giờ, Lưu Nha Nhi đã nhận ra, Tiền thị đối với bản thân thì rất keo kiệt, nhưng đối với người mà bà quan tâm, bà lại chẳng tiếc thứ gì, cái gì cũng sẵn lòng mua.
Hai người mua đồ xong thì không nán lại, đi thẳng ra đầu đường.
Lão thúc đánh xe thấy Tiền thị xách theo cả đống đồ, đi mà còn lảo đảo, liền vội xuống xe phụ một tay, cười nói: “Đại muội tử mua nhiều đồ thế!”
Nói xong trong lòng cũng lấy làm lạ, nhìn cách ăn mặc của đại muội tử này, chẳng giống quý nhân, lão thái thái phú quý gì đó. Đi thăm họ hàng mà ngoài một gánh lúa còn mua bao nhiêu thứ thế này, đúng là rộng rãi.
Tiền thị cảm kích, nói: “Cũng không có gì, mười năm mới qua một lần, tay không thì cũng kỳ.”
Nói rồi, bà lấy ra một gói bánh ngọt đưa cho lão thúc: “Cầm về cho tôn tử ăn, không có bao nhiêu, coi như ngọt miệng thôi!”
Lão thúc không ngờ lại có phần cho mình, vừa mừng vừa cuống quýt xua tay: “Không được không được, làm sao ta có thể nhận bánh của ngươi? Ngươi cất đi, mang sang cho hài tử nhà Đại Ngưu ăn!”
Đây là bánh ngọt, có đường bên trong, quý giá lắm!
Những năm gần đây mất mùa, ngay cả lễ Tết họ cũng chẳng nỡ mua cho hài tử một lần, sao ông dám nhận?
Tiền thị mặc kệ ông từ chối thế nào, cứ nhét gói bánh vào tay ông: “Lão huynh cứ cầm đi! Ta mua loại thường thôi, chẳng đáng bao nhiêu. Trước đó tôn nữ ta buồn nôn khó chịu, ngươi chẳng phải cũng cho nàng hai quả mận xanh sao? Cầm đi! Huống chi ngươi với Đại Ngưu cùng thôn, ta còn phải phiền ngươi đưa đến trước cửa nhà Đại Ngưu, đỡ cho ta phải gánh lúa!”
Lão thúc thật sự từ chối không được, đành nhận, ngượng ngùng nói: “Dù ngươi không nói, ta cũng sẽ đưa ngươi đến tận cửa nhà Đại Ngưu!”
Hai tổ tôn lại ngồi lên xe bò, lão thúc lại quất nhẹ dây, con bò già đi về hướng thôn Tiểu An.
Từ trấn đến thôn Tiểu An còn bảy dặm đường, phải đi hơn nửa canh giờ.
Con đường đất vàng càng lúc càng hẹp, càng lúc càng gập ghềnh. Lưu Nha Nhi ôm chặt cái giỏ lúa, sợ xe xóc mạnh lại nảy mình xuống dưới.
Lão thúc nhìn bộ dáng tiểu nha đầu mà bật cười, trêu: “Ráng chút nữa, sắp đến rồi! Nhưng mà yên tâm, lão đây đánh xe nửa đời người, chắc chắn không để cháu rơi xuống đâu!”
Xe bò lắc lư quanh co hai khắc đồng hồ, cuối cùng cũng đến thôn Tiểu An.
Lưu Nha Nhi nhìn thôn xóm hoang tàn tiêu điều trước mắt, cuối cùng cũng thở phào nhẹ nhõm. Nếu xóc thêm nữa, chắc mật đắng trong người cũng bị lắc cho trào ra mất.
Xe dừng trước một căn nhà đất vàng, lão thúc nhảy xuống xe, vừa khiêng bao lúa, vừa hướng vào nhà hô lớn: “Lão tỷ tỷ, người bên nhà mẹ đẻ của ngươi tới rồi!”
Khi Trần Què còn sống, người cùng vai vế đều gọi đại Tiền thị là tẩu tử Trần gia. Đợi Trần Què mất rồi, mọi người đổi gọi bà là lão tỷ tỷ, để tỏ thân tình.
Trong nhà, đại Tiền thị đang quét sân, nghe có người la lên nói nhà mẹ đẻ tới, trong chốc lát còn chưa phản ứng được.
Nhà mẹ đẻ? Bà sớm đã chẳng còn nhà mẹ đẻ nào để về nữa…
Bà buông chổi, lưng còng xuống, run rẩy bước ra ngoài, nói lớn: “Là ai ở đó la bậy vậy?”
“Đại tỷ!” Tiền thị nhìn dáng vẻ gầy gò xuất hiện trước mắt, suýt nữa đứng không vững, thiếu chút là ngã quỵ.
Bà biết thời buổi này khó sống, nhưng không ngờ sinh hoạt này lại tra tấn đại tỷ mình trở nên như thế này.
Đại Tiền thị chỉ hơn bà bảy tuổi, năm nay mới năm mươi tư. Nhưng nhìn dáng vẻ bây giờ, nói bà gần bảy mươi e cũng chẳng ai nghi ngờ.
Đại Tiền thị bước ra sân, thấy quả thật có người đến nhà, ngước mắt nhìn nhưng nhìn không rõ. Bà dụi mắt mấy lần, nhìn kỹ thêm vài lượt, nhớ lại lúc nãy nghe người ta gọi đại tỷ, mới hỏi khẽ: “Có phải… là Phương Nhi muội của ta không?”
Phương Nhi chính là khuê danh của Tiền thị. Đại danh kêu là Tiền Phương, ở nhà mẹ đẻ ai cũng gọi bà là Tiền tiểu muội hoặc Phương Nhi.
“Là muội đây! Đại tỷ, muội… muội đến thăm tỷ đây!” Giọng Tiền thị nghẹn lại, cố gắng lắm mới không bật khóc.
“Muội… sao lại đến? Tiểu Bảo, mau, chạy ra ruộng gọi cha nương ngươi về! Tiểu di nãi nãi của ngươi tới rồi! Phương Nhi, mau vào nhà ngồi, để ta đi đun nước. Đói không? Để ta hấp bánh cho muội ăn!”
Tiểu củ cải luôn trốn sau cánh cửa nghe nãi nãi bảo đi gọi người, dùng sức xoa xoa nước mũi, kéo quần rồi chạy vụt đi.
Đối với Tiền thị đã đến, đại Tiền thị lúc đầu là kinh hãi, sau là mừng rỡ. Đưa muội muội vào nhà, lấy ghế lau tới lau lui rồi mời ngồi, lại chuẩn bị chạy vào bếp làm bánh hấp cho Tiền thị ăn.
Tiền thị vội nắm lấy tay giữ chặt người lại: “Đại tỷ, đừng bận rộn nữa, ta không đói! Trước khi đi ta đã nướng nhiều bánh, lúc trưa trên đường có ăn rồi, giờ không ăn nổi đâu!”
“Đại tỷ, đây là Nha Nhi, tỷ còn nhớ không? Lúc nàng đầy tháng tỷ còn bế nàng đó!” Tiền thị kéo Lưu Nha Nhi lại trước mặt để tỷ tỷ nhìn rõ.
Đại Tiền thị nhìn tiểu nha đầu trước mắt, định đưa tay xoa mặt nàng. Nhưng nhìn thấy bàn tay mình đầy chai sạn, bà ngập ngừng rồi rụt tay lại, cuối cùng chỉ nhẹ nhàng xoa lên vai Lưu Nha Nhi: “Chớp mắt một cái mà Nha Nhi lớn thế này rồi. Thời gian trôi thật nhanh, thoắt cái đã gần mười năm… Nha Nhi, ngươi ngồi với nãi nãi đi, di nãi nãi sẽ hấp bánh cho ngươi ăn! Bột trắng mới xay, bánh hấp mềm lắm! Ngồi đi, hai người cứ ngồi đi!”
Nói xong bà lại định đi hấp bánh.
Tiền thị không nhịn được nữa, bật khóc thành tiếng! Lưu Nha Nhi cũng rưng rưng theo.
Trên đường đi, họ đã hỏi lão thúc dẫn đường, lúa mạch thôn Tiểu An năm nay cũng mất mùa nặng. Sau khi nộp thuế, mỗi nhà chỉ giữ được hơn trăm cân lúa. Lúc xay bột, ngay cả cám cũng không nỡ sàng bỏ, trộn vào bột mà ăn.
Cám mì chính là lớp vỏ ngoài của hạt lúa mạch. Ở thời hiện đại, khi xay lúa mạch người ta đều rây bỏ lớp cám mì vàng ấy, chỉ dùng phần bột mì trắng bên trong. Với đời sống bây giờ, cám mì thường được dùng để nuôi heo, cũng chính là thứ mà người nông thôn gọi là cám.
Thời buổi này khó sống, khó đến mức phải ăn cám. Vậy mà đại tỷ Tiền thị vẫn muốn làm bánh bột mì trắng cho nàng ăn.
“Di nãi nãi, ta không đói đâu a! Người ngồi đây nói chuyện với nãi nãi ta đi. Bà ta nhớ người lắm đó! Nên mới dẫn ta đến thăm người nè!” Lưu Nha Nhi đỡ đại Tiền thị ngồi xuống, rồi ngoan ngoãn ngồi cạnh bên Tiền thị.
“Ai, nha đầu này nuôi khéo quá! Không sợ người lạ, cũng không nhát người! Không giống Tiểu Bảo nhà ta, nhát gan, thấy người lạ chỉ biết trốn sau lưng cha nương hắn, uổng cái thân nam hài!”
“Tiểu Bảo là do hắn còn nhỏ, lớn lên tự khắc sẽ khác! Còn Nha Nhi ta mấy năm trước cũng vậy, yếu ớt, thấy người lạ chẳng dám hé răng. Giờ xem nàng kìa, giỏi giang biết bao!” Nhắc đến tôn nữ, Tiền thị tự hào từ trong lòng tràn ra.
Bà cảm thấy trên đời này, bất kể là bản lĩnh hay hiếu thuận, không hài tử nào có thể hơn được tôn nữ mình.
Dĩ nhiên, những lời này bà chỉ để trong bụng, ngoài mặt vẫn phải khiêm tốn.
Trong căn nhà đất tối tăm, hai tỷ muội lâu ngày gặp lại nắm tay nhau trò chuyện. Từ chuyện tôn tử, nói sang nhi tử, rồi lại nói đến ruộng đất và thu hoạch năm nay.
Lưu Nha Nhi ngoan ngoãn ngồi bên cạnh nghe họ nói chuyện.
Hai tỷ muội đang trò chuyện thì nhi tử và tức phụ của đại Tiền thị từ ngoài đồng vác nông cụ trở về.
Thật ra đại Tiền thị sinh bốn người con, nhưng nhi tử đứng hàng thứ hai và nữ nhi thứ ba đều không sống được. Chỉ còn lại Đại Ngưu và Đại Tráng.
Ngày tổ phụ Lưu gia mất và lúc Nha Nhi đầy tháng, hai vị biểu thúc này đều đã từng đến nhà Lưu gia. Nhưng khi đó nguyên chủ còn bé xíu, dĩ nhiên chẳng có ấn tượng gì.
“Tiểu di! Sao người lại tới mà không báo trước? Để ta đi ra trấn đón người cũng được mà!” Đại Ngưu dẫn tức phụ nhi tử vào chào Tiền thị.
Đại Tráng cũng góp lời: “Đúng đó tiểu di, đến cũng không báo một tiếng. Tiểu di xem, đến nơi mà ngay cả miếng nước nóng cũng chưa kịp chuẩn bị! Tiểu di cứ ngồi nói chuyện với nương ta, để ta đi đun nước!”
Năm Tiền thị mới cưới, tổ phụ Lưu gia từng dẫn bà về thăm đại tỷ ở Tiểu An thôn. Khi ấy Đại Tráng mới ba tuổi, vừa biết nhớ người. Trong ký ức của hắn, tiểu di lúc nào cũng bế hắn, chọc hắn cười, còn mua bánh cho hắn ăn.
Nên dù đã gần mười năm không gặp, nay nhìn thấy Tiền thị, trong lòng Đại Tráng vẫn cảm thấy thân thiết vô cùng.
Hiện giờ Đại Tráng đã ba mươi mốt tuổi mà vẫn chưa đón dâu. Đại Ngưu thì cưới cô nương Lý gia ở thôn bên cạnh, sinh được hai nhi tử, Đại Bảo mười ba tuổi và Tiểu Bảo sáu tuổi.
So với tính nhút nhát của Tiểu Bảo, Đại Bảo trông chững chạc hơn nhiều. Nhà có khách, chào hỏi xong là nó đi giúp tiểu thúc nấu nước.
Đại Ngưu dẫn tức phụ, Lý thị vào chào hỏi xong thì Lý thị kéo trượng phu ra sân, ghé sát tai trượng phu thì thầm bảo hắn lên trấn mua miếng đậu phụ, còn mình đi trong thôn hỏi nhà nào có thể cho mượn vài quả trứng gà.
Đại Ngưu cầm mấy đồng tiền vừa đi được vài bước thì bị tươc phụ gọi giật lại.
“Có chuyện gì?”
Lý thị vội bịt miệng trượng phu, hạ giọng nói: “Huynh nhỏ tiếng thôi! Ta nghĩ tiểu di hiếm khi đến, không thể để người ta ăn uống sơ sài được. Huynh vào kho cân mười cân lúa mạch đem bán, rồi mua chút thịt về!”
“Được!”
Đại Ngưu quay vào kho định cân lúa thì nghe trong nhà vang lên tiếng Tiền thị.
“Tiểu di, người gọi ta à?”
Tiền thị phủi quần áo, đứng dậy: “Bảo tức phụ ngươi đừng bận rộn. Ta biết nàng là người tốt, nhưng chúng ta là người một nhà, không cần khách sáo như vậy! Gọi nàng vào đây!”
Khi Đại Ngưu dẫn Lý thị vào nhà, Tiền thị đã lấy thịt, đường và điểm tâm trong giỏ ra để lên bàn. Lại lấy một xấp vải thô đặt xuống: “Xấp vải này sáu thước, đừng tiếc, mang đi may y phục cho đại tỷ và Đại Bảo, Tiểu Bảo! Ta mua rồi, đừng có mà cất dưới đáy rương!”
“Gói đường này cho đại tỷ, còn hai gói bánh kia đưa cho đám hài tử ăn. Đừng tiếc, trời dần nóng lên rồi, để lâu nó mốc thì phí lắm! Còn trăm cân lúa mạch kia, Đại Ngưu mang đổ vào kho đi. Cái giỏ rơm trả lại cho ta, ta còn phải mang về!”
Tiền thị lại đưa thịt và sườn cho Lý thị: “Ngươi cũng đừng đi mượn trứng nữa. Ta đến thăm đại tỷ, không phải đến ăn uống cho sang! Thịt với sườn này mang đi nấu cho hài tử ăn, phần còn lại thì ướp muối. Đợi đến lúc bận mùa màng, có cái mà ăn cho đỡ cực!”
Thật ra lúc nãy Lý thị kéo Đại Ngưu ra sân, bà đã đoán được đôi phu thê son này định làm gì.
Nhà đại tỷ nghèo, nghèo đến mức ngay cả chuyện cưới vợ cho Đại Tráng cũng lo không nổi, còn lấy đâu ra thức ăn tươm tất để đãi bà.
“Tiểu di… ngài…” Đại Ngưu đỏ mắt, đứng ngẩn ra, không biết nên nói gì.
Những năm gần đây, nhà tiểu di cũng khó khăn nên mới không gửi lương thực nữa. Chứ mấy năm trước, năm nào tiểu di cũng nhờ người mang đến một trăm cân lương thực. Hắn luôn ghi nhớ ơn tiểu di, nghĩ sau này nhất định phải báo đáp. Vậy mà nay tiểu di đến nhà, ngay cả bữa cơm cho ra hồn hắn cũng chẳng chuẩn bị nổi.
Ngược lại, tiểu di lại hiếm khi đến, vậy mà gần như mang hết cả nhà theo. Ân tình này, hắn Trần Đại Ngưu biết lấy gì mà trả?