Lại nửa tháng nữa trôi qua, bước vào cuối thu. Cây quế già trước sân nhà trưởng thôn cũng nở hoa vàng ươm, hương thơm lan mười dặm.
Những người làm đồng ngửi hương quế đều cảm thấy tâm tình khoan khoái hơn hẳn.
Năm nay, nhà Lưu gia cố ý để trống một phần đất gieo lúa mạch, rắc một mảng hạt cải dầu ở góc ruộng. Chờ hạt nảy mầm thành cây con thì nhổ lên trồng vào ruộng bên cạnh, vừa tiện vừa đỡ công.
Ngoài cải dầu, lúc này cũng là thời điểm gieo lúa mạch và đậu tằm. Vì trồng đậu tằm đơn giản, Lưu Đông Thanh chủ động nhận việc, dẫn theo Lưu Nha Nhi và Tần Mục cùng lên đất hoang dưới chân núi rải hạt.
Ba mẫu đất, mấy hài tử phải mất hai ngày mới rải xong. Gieo hạt xong, chờ mọc mầm là rảnh rỗi mấy hôm.
Lưu Nha Nhi rảnh rỗi, tính qua tính lại, số đậu mốc bỏ vào chum đã lên men được bốn tháng, thời gian là đủ. Thấy trời dạo này nắng đẹp, nàng quyết định mở chum lấy tương và nước tương ra phơi.
Ở giữa đậu mốc có đặt một chiếc phễu tre để lọc. Sau mấy tháng lên men, tương và nước tương đã tự tách nhau qua phễu tre. Lưu Nha Nha dùng ống tre nhỏ múc một ít, chấm ngón tay nếm thử.
Mặn, thơm, vị tương đậm đà, chẳng khác gì nước tương thời hiện đại. Có vẻ mấy năm nay tay nghề nàng vẫn còn!
Lưu Nha Nhi múc toàn bộ nước tương ra, đổ vào hũ rồi bê ra phơi dưới nắng để kích hương. Phơi chừng mười ngày nửa tháng, nước tương xem như thành công. Tất nhiên, phơi càng lâu thì càng thơm.
Vì đậu ít, hai thùng lớn đậu mốc chỉ ủ được một hũ nước tương.
Lưu Đông Thanh ôm hũ nước tương nặng trịch, nhẹ nhàng đặt xuống sân. Thật ra từ lúc bưng hũ lên, một mùi tương thơm đặc biệt đã len thẳng vào mũi, nhưng hắn không dám hỏi nhiều, sợ làm rơi vỡ, hỏng hết công sức của Nha Nhi.
Đến khi đặt được hũ xuống, Lưu Đông Thanh mới hỏi: “Đây là nước tương mà muội nói sao? Thơm thật, chỉ là chưa biết mùi vị thế nào.”
Nghe vậy, Lưu Nha Nhi liền đưa cái ống tre trong tay đến trước mặt hắn.
Lưu Đông Thanh tự nhiên cũng không ngốc, trên ống tre vẫn còn dính nước tương. Hắn đưa tay chấm một chút, bỏ vào miệng nếm.
“Ngon… mặn…” Lưu Đông Thanh nheo mắt lại, vẻ mặt như đang hồi tưởng dư vị.
Trong thời đại vật tư khan hiếm thế này, mùi vị của nước tương đậu nành chẳng khác nào mở ra một cánh cửa mới cho vị giác của hắn.
Hắn cảm thấy, có loại gia vị này rồi thì đừng nói xào rau, ngay cả xào… đế giày cũng chắc là thơm ngon vô cùng.
Lưu Đông Thanh lại chấm thêm chút nữa, rồi đưa ngón tay đến trước môi Tần Mục.
Tần Mục ngoan ngoãn, cẩn thận dùng đầu lưỡi nếm nhẹ nước tương trên tay Lưu Đông Thanh.
Ngon!
Đó là chữ đầu tiên hiện lên trong đầu hắn. Hắn chưa từng nghĩ thế gian lại có thứ gia vị hội tụ nhiều hương vị như vậy, ngon, mặn, thơm, thậm chí còn phảng phất chút ngọt rất nhẹ.
Mà thứ gia vị thần kỳ này lại do chính Nha Nhi làm ra. Rõ ràng Nha Nhi chỉ mới chín tuổi, còn không lớn bằng hắn.
Nghĩ vậy, trong lòng Tần Mục lại dâng thêm một tầng tự ti.
Khi trong sân ai nấy còn đang theo đuổi suy nghĩ riêng của mình, thì Hổ Tử chạy đến tìm Lưu Đông Thanh, nói là quả hồng rừng ở sườn dốc đã chuyển vàng.
Lúc trước trong lúc nói chuyện phiếm, Lưu Đông Thanh từng nói với Hổ Tử rằng Nha Nhi bảo hồng rừng ăn được. Hổ Tử nhớ kỹ, nên vào đầu thu cứ cách vài ngày lại ra xem.
Nghe nói hồng vàng rồi, Lưu Nha Nhi lập tức mang ra hai cái giỏ đựng lúa, chuẩn bị đi hái hồng.
“Nha Nhi, muội định hái… hai giỏ lận hả? Nhiều thế làm sao ăn hết? Đừng để hỏng đấy.”
Lưu Nha Nhi đưa đòn gánh cho Lưu Đông Thanh: “Muội còn ghét bỏ hai giỏ là ít ấy! Đi thôi, chúng ta đi hái hồng!”
Đường núi gồ ghề, lá rụng đầy đất, Lưu Nha Nhi giẫm lên phát ra tiếng rào rạo.
Thì ra, nàng đã đến thế giới này được nửa năm rồi. Không biết cha nương kiếp trước của nàng giờ ra sao, cũng chẳng biết đời này có cơ hội quay lại không.
“Oa, năm nay hồng sai thật đấy!”
Tiếng kinh ngạc của Lưu Đông Thanh kéo nàng ra khỏi dòng hồi ức. Lúc này, nàng mới nhận ra họ đã đến nơi.
Cây hồng rừng rất cao, thân thẳng và nhỏ, phía dưới chẳng có nhánh nào, toàn bộ quả treo tận ngọn. Hồng không như táo gai, lấy cây tre gõ là rơi xuống, nhặt lên là xong. Hồng mà rơi xuống đất thì rất dễ vỡ nát, chưa đợi hồng ủ mềm đã hỏng mất.
Lưu Nha Nhi ngẩng đầu nhìn một cây đầy hồng mà nhăn trán. Nàng hối hận vì trước khi đi không làm thêm cái dụng cụ đỡ quả, e rằng chuyến này phí công rồi.
Nàng vừa định bảo quay về thì thấy Hổ Tử đã thắt cái giỏ nhỏ bên hông, trên quai còn buộc dây, thoăn thoắt như con khỉ con leo thẳng lên cây hồng.
Chưa kịp phản ứng, Tần Mục cũng nhanh như Hổ Tử mà trèo lên theo.
“Tần Mục! Hổ Tử! Hai người chậm thôi!” Lưu Đông Thanh đứng dưới ngửa cổ la lên.
Lúc này Lưu Nha Nhi mới nhớ ra, nàng đã quên mất, ở nông thôn, nam hài mà không biết leo cây mới là lạ!
Quả hồng đã ngả vàng nhưng vẫn còn cứng, nên không lo bị hỏng khi hái xuống. Hái hồng bỏ vào chiếc giỏ nhỏ đeo ở eo. Khi giỏ đầy, tháo dây thừng buộc ở eo ra, rồi từ từ thả giỏ xuống dưới.
Huynh muội Lưu gia đứng dưới gốc cây, phụ trách lấy hồng từ giỏ rồi đổ vào thúng. Hổ Tử và Tần Mục lại kéo giỏ rỗng lên, cứ thế lặp đi lặp lại.
Đợi đến khi hai thúng đều đầy, Hổ Tử và Tần Mục mới trượt xuống cây.
“He da!”
“Sao nặng thế này?”
Lưu Đông Thanh và Tần Mục mỗi người khiêng một đầu đòn gánh, dùng hết sức mà phát hiện thúng hồng nặng đến mức nhúc nhích cũng không nổi.
“Mỗi thúng chắc phải hơn trăm cân! Nha Nhi, muội về gọi cha, mang thêm hai cái giỏ lên đây!”
“Ừ!” Lưu Nha Nhi gật đầu rồi chạy vội xuống núi, còn suýt trượt ngã.
Gọi được cha rồi, nàng còn muốn đi cùng lên núi, nhưng bị cha ngăn lại, bảo ở nhà nghỉ ngơi, để hắn đi một mình là được.
Lưu Nha Nhi chạy gấp, giờ mệt lắm nên cũng nghe lời ở nhà. Đợi đến khi cha gánh đòn trở về, nàng mới chạy ra phân loại hồng.
Nàng chọn những quả có màu đậm và to, chôn vào thóc chưa xay. Chôn khoảng bảy tám ngày, vỏ hồng từ cam chuyển sang đỏ, thịt mềm ra, cắn một miếng là ngọt lịm, hết sạch vị chát.
Nếu ở hiện đại, thời gian ủ hồng sẽ ngắn hơn nhiều. Chỉ cần lấy rượu trắng lau vỏ, bỏ chung với táo vào túi, ủ ba ngày là chín. Chỉ là thời này không có điều kiện ấy.
Những quả còn xanh hơn, Lưu Nha Nhi lấy khoảng hai chục quả làm hồng giòn. Hồng giòn tức là ngâm vào nước âm dương bốn năm ngày. Khi ăn thì gọt vỏ, cắn vào là giòn sật, giống như táo.
Còn lại một thúng hồng, nàng định làm hết thành bánh hồng. Bánh hồng để được lâu, mà vị lại khác hoàn toàn hồng chín hay hồng giòn, làm đồ ăn vặt thì tuyệt nhất.
“Hổ Tử ca, ngươi về làm theo cách ta dạy mà ủ hồng và làm hồng giòn. Bánh hồng để ta phơi xong rồi đem sang cho ngươi sau!” Lưu Nha Nhi đưa cho Hổ Tử một giỏ đầy hồng.
Hổ Tử nhận lấy, cười đến lộ cả hàm răng trắng: “Biết rồi! Thế mai ta lại đến gọi mọi người lên hái tiếp nha?”
“Không cần đâu! Chừng này đủ ăn rồi, hồng ăn nhiều không tốt, hại dạ dày! Mai ngươi nói với người trong thôn, ai muốn thì tự lên hái, ta sẽ dạy họ cách ủ hồng.”
Hồng đúng là không thể ăn nhiều, ăn quá dễ bị kết sỏi, còn gây tắc ruột. Thời cổ y học kém phát triển, mấy bệnh này không dễ chữa. Vì ham ăn mà mất nửa cái mạng thì không đáng.
Chôn hồng trong vỏ trấu xong, hồng ngâm nước âm dương cũng đậy nắp lại. Nhân trời chưa tối, cả nhà đứng bên giếng rửa sạch số hồng còn lại rồi để ráo. Đợi ngày mai gọt vỏ, treo lên phơi làm bánh hồng.
Hồng vừa rửa xong thì trời cũng sập tối. Mùa thu đến, ngày ngắn lại.
Trong gian bếp mờ tối, Lưu Nha Nhi bỏ thêm bó củi vào lò. Ánh lửa bập bùng soi gương mặt nhỏ của nàng đỏ hồng.
Tiền thị đặt nồi cơm lên bếp, nhìn bộ dáng lạc quan của tiểu tôn nữ càng thấy thương, trong lòng bỗng chốc buồn man mác. Chiều nay Dư bà tử trong thôn đến thăm dò ý tứ. Lời trong lời ngoài, nói toàn chuyện về chất tôn nữ bên nhà mẹ đẻ, nào là xinh xắn, nào là cần mẫn hiếu thuận…
Tiền thị tất nhiên hiểu ý Dư bà tử, nhưng bà vờ như không hiểu, khéo léo lái sang chuyện khác.
Nghĩ đến chuyện ban chiều, bà lại nghĩ đến Nha Nhi nhà mình. Dù nha đầu mới chín tuổi, nhưng thời gian trôi nhanh như chớp mắt. Không được mấy năm nữa, nàng cũng nên làm mai rồi. Cũng không biết đến lúc đó sẽ gả vào nhà thế nào.
“Nãi nãi, đợi khi bánh hồng phơi được nửa khô, mình gói một ít nhờ lão gia gia đưa vải mang sang cho di nãi nãi a. Bánh hồng nửa khô mềm, ăn không đau răng.” Trong đầu Lưu Nha Nhi giờ toàn là hồng.
“Được, được, nghe Nha Nhi hết. Nha Nhi nhà ta thật hiếu thuận, còn nhớ di nãi nãi nữa!”
Tiền thị cười đáp, nghĩ thầm trên đời chắc chẳng có hài tử nào vừa hiểu chuyện vừa chăm chỉ hiếu thuận như tôn nữ mình. Nhưng nghĩ đến việc sau này tôn nữ phải gả đi, trở thành người nhà khác, mắt bà lại đỏ hoe.
“Nãi nãi, sao thế a? Có chỗ nào khó chịu không?”
Tiền thị lau khóe mắt, cười nói: “Bếp bị nứt khe nhỏ, khói lọt ra, xông vào mắt thôi.”
Lưu Nha Nhi tin thật, nghiêm túc nói: “Đợi khi mình dành dụm được thêm tiền, chúng ta sẽ xây lại cái bếp mới.”
Nói xong lại cảm thấy chưa đúng, nàng nói tiếp: “Đợi gom được nhiều tiền hơn nữa, chúng ta sẽ xây nhà mới! Đến lúc đó, làm thêm mấy gian phòng. Đợi ca ca con cưới tức phụ, sinh con, nhà mình sẽ đủ chỗ ở!”
“Con nghĩ xa thật đấy! Người ta nói sinh nhi để dưỡng già, sống đến tuổi xế chiều là để hưởng phúc con cháu. Nhưng ta đây… chắc sau này phải hưởng phúc của tôn nữ rồi!”
“Đúng! Nãi nãi, người cứ chờ hưởng phúc của ta! Lúc đó ta sẽ mua cho người lăng la tơ lụa, vàng bạc châu báu, rồi mua mấy nha hoàn bà tử để hầu hạ người! Ta thấy trong mấy quyển thoại bản, mấy lão thái thái phú hộ toàn được đối đãi như vậy. Đến lúc đó, ta cũng để nãi nãi thành lão thái thái!”
Lưu Nha Nhi nói đầy sinh động, như thể những gấm vóc châu báu và nha hoàn đó nàng đều thấy tận mắt.
Nghe tôn nữ đồng ngôn đồng ngữ, Tiền thị vừa cười vừa rơm rớm nước mắt. Tôn nữ bà sao mà có năng lực, hiểu biết đủ thứ như vậy.
“Nãi nãi không tin con à!” Lưu Nha Nhi bĩu môi, tỏ vẻ tủi thân.
“Làm sao ta không tin con được? Ta là vui quá thôi. Ta chờ ngày con cho ta làm lão thái thái đây!”
Khói bếp lững lờ bay lên, rồi tan vào màn đêm.
Trong căn bếp nhỏ của một nhà nông, vang lên tiếng cười trong trẻo của đôi tổ tôn.