Gần hai tháng trôi qua, phía Túy Tiên Lâu cũng chẳng có động tĩnh gì nữa, người Lưu gia lúc này mới yên tâm.
Trong thời gian đó, Lưu Nha Nhi có đến Bách Vị Lâu một lần, chỉ nói chưởng quầy Túy Tiên Lâu không biết từ đâu nghe được tin, đã tìm tới Tiểu Vương Trang để mua tương dầu và dầu hạt cải.
Lời của Lưu Nha Nhi nói rất uyển chuyển, nhưng chưởng quầy Bách Vị Lâu không phải hạng ngốc. Gây ra chuyện này, tất phải là do kẻ ăn cây táo rào cây sung trong tửu lầu của ông ta.
Lão chưởng quầy cảm ơn Lưu Nha Nhi đã nhắc nhở, lại bảo nàng cứ yên tâm: nếu Túy Tiên Lâu manh nha ý định gì, thì chủ nhân phía sau Bách Vị Lâu tuyệt đối cũng không phải ăn chay.
Có câu ấy, Lưu Nha Nhi cũng an lòng hơn nhiều. Ít nhất hiện giờ, Bách Vị Lâu và thế lực đứng sau nó cũng xem như một chỗ dựa.
Trên đường về, Lưu Nha Nhi cứ thở dài, thầm nghĩ, đúng là quyền lực vẫn lớn hơn tiền! Sau này khi chuyện làm ăn của nàng phát triển lớn, không biết nàng có đủ sức mà bảo vệ không nữa.
“Nha Nhi, đừng thở dài nữa. Có cha ở phía trước đỡ cho con mọi chuyện! Con rõ chưa?” Lưu phụ đau lòng xoa đầu khuê nữ.
Nghĩ cho cùng là do hắn vô dụng, khuê nữ hắn mới mười tuổi, lại phải gánh những áp lực mà lứa tuổi này vốn không nên có.
Hắn nghĩ, hay là mình nên quay lại đường khoa cử? So với nhi tử và Mục Nhi, có lẽ hắn thi đậu chức quan còn dễ hơn. Nhưng nếu hắn đi thi, lỡ kẻ xấu nhân lúc hắn vắng nhà bắt nạt lão mẫu cùng hài tử thì sao?
Không được. Hắn không thể rời nhà.
“Chờ thêm chút nữa, Nha Nhi, đợi Thanh Nhi học xong mấy năm, ta sẽ dạy thêm cho hắn, nhất định để hắn thi đỗ công danh, cũng để con có người mà dựa vào!” Lưu phụ mím môi, vẻ mặt vô cùng kiên định.
“Cha đừng lo, con lo liệu được! Còn ca ca, cha cũng đừng ép huynh ấy quá. Đọc sách không chỉ cần chăm chỉ, mà còn cần thiên phú và hứng thú. Nếu ca ca không thích đọc sách, cha cũng đừng bắt ép.”
Dù Lưu Nha Nhi cũng mong ca ca đi đường khoa cử, nhưng nàng nhớ mang máng trước đây hắn từng nói muốn làm đại nguyên soái cơ mà…
“Ừ, chuyện này ta hiểu.”
“Cha! Hay là… cha thử tham gia kỳ thi mùa thu năm nay đi?”
“Thế còn nhà cửa thì sao? Ta có thể ôn tập ở nhà, nhưng thi Hương phải lên phủ thành, lúc đó nhà cửa biết làm sao đây?”
Lưu Nha Nhi mệt rồi, bèn ngồi xổm xuống bên vệ đường nói: “Con không phải muốn cha làm quan để sau này che chở cho con. Mà là vì con thấy cha có thiên phú đọc sách rất cao, khi còn trẻ đã đỗ tú tài. Nếu không phải vì tổ phụ và nương con qua đời, có lẽ cha đã sớm đỗ cử nhân rồi. Trước đây cha nói bản thân không thích đấu đá trên quan trường, lại không giỏi xã giao. Nhưng hơn một năm trở lại đây, con thấy cha rất thích hợp làm quan, làm quan tốt ấy!
Cha nhân hậu, ngay thẳng, biết lắng nghe ý kiến người khác, còn có thể sửa đổi thiếu sót của mình. Hơn nữa khi xử lý việc gì, hiện giờ cha đều biết cân nhắc từ nhiều góc độ. Đây chẳng phải đúng là kiểu quan làm việc thực tế mà triều đình cần sao?”
“Nha Nhi thật sự nghĩ như vậy?”
“Vâng. Con biết cha là người lương thiện, lại muốn cả thiên hạ đều được no ấm. Nếu một ngày nào đó cha đỗ cao, không chỉ có thể che chở chúng con, mà còn có thể tạo phúc cho bách tính!”
Trong lòng Lưu Nha Nhi nghĩ, sau này khi việc trồng cải dầu được phổ biến rộng rãi, công lao chắc chắn sẽ không rơi vào trên đầu Lưu gia một bình dân áo vải này. Công đức to lớn lợi quốc lợi dân như vậy, sao có thể để người khác chiếm lấy. Không bằng để cha nàng đi thi cử, nếu thật sự thi đỗ làm quan, tới lúc ấy để cha nàng đứng ra phổ biến cây cải dầu, cũng xem như một thành tích chính trị!
Thấy Lưu phụ còn do dự, Lưu Nha Nhi lại nói: “Tổ phụ… chắc hẳn cũng mong cha có thể làm rạng danh môn hộ Lưu gia!”
“Nha Nhi, con…”
“Cha, con xin lỗi, con… con nói sai rồi! Cha không muốn thi thì chúng ta không thi! Còn có ca ca con nữa mà, biết đâu một ngày nào đó ca ca con đỗ trạng nguyên thì sao!” Lưu Nha Nhi thầm trách mình. Nàng chỉ vì nôn nóng nhất thời, nói ra những lời chưa suy nghĩ thấu đáo.
Như thế mà đem tử phụ Lưu gia ra nói, chẳng phải đang ép cha nàng sao! Dù nàng mong cha mình đi thi lấy công danh, nàng cũng không muốn ép buộc ông.
Nàng thật đáng trách, giờ Lưu phụ chắc chắn hiểu lầm mất rồi.
“Cha, con thật sự không cố ý, con không hề muốn ép cha. Cha đừng để trong lòng!” Lưu Nha Nhi sốt ruột đến mức sắp khóc, không biết phải giải thích thế nào.
“Nha đầu ngốc, cha hiểu Nha Nhi nhất mà! Nha Nhi của chúng ta thương cha nhất, sao lại ép cha được chứ! Đi nổi không? Nếu không cha cõng con!”
Lưu Nha Nhi đỏ bừng cả mặt, bật dậy cái vèo rồi vừa đi vừa nói lớn: “Đi được, con khỏe lắm!”
Dọc đường không ai nói gì thêm.
Đêm xuống, tiếng ếch kêu râm ran.
Lưu phụ lấy ra bài sách luận từng viết nhiều năm trước, lật đi lật lại xem.
Ngày trước, hắn cũng từng đầy nhiệt huyết, mang theo lý tưởng và hoài bão. Hắn cũng muốn thi đỗ công danh, bước lên con đường thanh vân, làm rạng rỡ tổ tông.
Nhưng phụ thân hắn, vì con đường thanh vân đó mà ngã xuống vách núi, mất mạng.
Khi ấy, hắn vẫn nghĩ chờ hết tang hiếu, sẽ hoàn thành di nguyện của phụ thân mà tiếp tục thi cử.
Nhưng Tần Ngũ đã chết, chết dưới roi của đám cường hào địa phương.
Hắn từng thay nương Tần Mục viết đơn kiện, tự mình mang tới nha môn. Nhưng vì trong tộc cường hào có người làm quan lớn, huyện lệnh tiền nhiệm không dám đắc tội, lại còn nhận bạc của họ. Trước công đường công nhiên đưa ra nhân chứng và vật chứng giả mạo. Cứ thế, một tiếng kinh đường mộc vang lên, Tần Ngũ bị phán chết do ngoài ý muốn!
Hắn hận, hận quan lại mục nát, hận cái gọi là quan trường ấy. Tất cả hoài bão của hắn vỡ nát ngay trong khoảnh khắc đó, hắn bỗng không còn biết ý nghĩa của khoa cử là gì.
Nhưng Nha Nhi nói đúng, bách tính cần những vị quan thật sự làm việc vì dân. Khi tham quan gian thần đầy rẫy, thì lại càng cần người thanh liêm.
Có lẽ, hắn thật sự nên đi tham gia kỳ thi mùa thu năm nay. Không nói đến thiên hạ thương sinh, ít nhất vì lão mẫu và hai hài tử, hắn cũng nên trở nên mạnh mẽ hơn.
Ít nhất… phải đủ mạnh để bảo vệ họ!
“Xào xạc —”
Cây bách ngoài sân bị gió đêm thổi lay động phát ra tiếng xào xạc, ngọn đèn dầu trên bàn cũng lay theo, chập chờn.
Lưu phụ đứng dậy đóng chặt cửa sổ, rồi từ giá sách dựa tường rút ra một cuốn sách.
Cuốn sách ấy, hắn không biết đã đọc bao nhiêu lần, góc sách đều đã cong lên.
Lật ra, những bài trong đó hắn đã thuộc làu, đọc ngược đọc xuôi đều được. Hắn tự hỏi, nếu thật sự đi tham gia kỳ thi mùa thu năm nay, liệu hắn có đỗ không? Nếu không đỗ, Nha Nhi nhất định sẽ thất vọng…
Đêm, dần dần sâu lại.
Cả thôn, đến cả đám chó cũng đều ngủ say. Chỉ có ngôi nhà đá xanh dưới chân núi phía sau thôn Tiểu Vương Trang vẫn còn le lói ánh đèn mờ trong căn buồng nhỏ phía trong.
“Nãi nãi, cha con đâu rồi?” Lưu Nha Nhi vươn vai một cái, tự mình kéo nước từ giếng lên.
Tiền thị ném mấy lá rau thối xuống đất, đáp: “Cha con lên huyện rồi. Làm gì thì không nói, chỉ bảo phải đi một chuyến.”
“Nha ~ nhưng mà đi sớm quá, lúc này sương còn nặng, giày vớ đi một chuyến là ướt hết!”
Rửa mặt xong, Lưu Nha Nhi mở cửa chuồng gà, để gà ra ăn rau dập.
“Năm nay bà bắt gà khéo ghê, chỉ có ba con gà trống, còn lại đều là gà mái. Đợi đến lúc chúng đẻ trứng, mỗi ngày cũng nhặt được chục quả ấy chứ!”
Lúc gà còn nhỏ thì chẳng phân biệt được trống mái, nhưng lớn lên một chút thì nhìn phát biết ngay.
Tiền thị nhìn đàn gà, cũng nở nụ cười: “Đợi đẻ trứng rồi, mỗi ngày bà nấu cho các con một quả trứng. Ăn trứng vào mới lớn cao lớn khỏe mạnh!”
Cao lớn khỏe mạnh?
Lưu Nha Nhi thầm nghĩ, nàng đâu muốn làm… lực sĩ!
Bữa sáng là cháo trắng, thêm một đĩa dương xỉ muối chua ngâm từ đầu xuân.
Dầu mè trộn chút mỡ heo, đợi dầu trong nồi bốc khói trắng thì cho hạt ngô đồng và tỏi vào phi thơm, rồi đổ dương xỉ ngâm vào xào.
Mùi vị mặn thơm, cay nồng mà giòn mềm, đúng là đưa cơm nhất.
Vừa ăn sáng xong, Hạ Mai chạy đến tìm, hỏi Lưu Nha Nhi có đi nhà Ngô nương tử để học thêu không.
Giờ lúa mì và cải dầu đều thu hoạch rồi, lúa trong ruộng chỉ mới vừa làm đòng, ngoài đồng chẳng có mấy việc, quả thật rất rảnh rỗi.
Lưu Nha Nhi tuy không hứng thú với việc thêu, nhưng lại thích nghe Ngô nương tử kể chuyện Giang Nam. Thế là nàng lấy giỏ thêu, cùng Hạ Mai đến nhà Ngô nương tử.
Lưu Đông Thanh cũng gọi Tần Mục và Ngô Siêu lên núi, hắn muốn xem sau một tháng đi theo lão thợ săn, Tần Mục đã học được bản lĩnh gì.
Trong căn lều tranh, dù ban ngày cũng rất tối, Ngô nương tử mỗi ngày đều dời đồ ra trước cửa, nhờ ánh sáng bên ngoài mà thêu.
Hạ Mai làm theo lời chỉ dẫn, từng mũi từng mũi xuyên qua mặt vải. Còn Lưu Nha Nhi thì chống cằm ngồi nghe họ nói chuyện.
Thật tình là vì tay nghề thêu của nàng quá… thảm hại, một mẫu hoa đơn giản mà thêu đến méo mó, chẳng nhận ra hình dạng ban đầu. Uổng phí cả miếng vải.
“Thẩm, thẩm đang thêu song diện à?” Lưu Nha Nhi bất ngờ khi thấy trong tay Ngô nương tử là song diện tú, loại thêu hai mặt nổi tiếng của Tô Châu.
Trước đây nàng chỉ biết Ngô nương tử thêu đẹp, không ngờ còn biết cả song diện tú.
Ngô nương tử nghe Lưu Nha Nhi nói đến song diện tú thì cũng kinh ngạc. Nàng dừng kim, hỏi: “Nha Nhi còn nhận ra thêu hai mặt sao?”
“Vâng, con từng đọc trong sách! Thẩm thật lợi hại, thêu công tốt đến vậy!”
Ngô nương tử khẽ cười, mang theo nét dịu dàng đặc trưng của nữ tử Giang Nam: “Nha Nhi cũng thật có bản lĩnh, hiểu biết rộng, còn nhận ra được song diện tú nữa. Cái miệng của ngươi, thật biết dỗ người ta! Đây đâu phải bản lĩnh gì ghê gớm, ở Giang Nam chúng ta, thêu song diện là thứ nữ nhi phải học từ nhỏ. Vậy mà nghe ngươi nói, lại thành tài nghệ hiếm có!”
“Thì đúng là bản lĩnh lớn chứ sao! Song diện tú đâu phải ai cũng thêu được? Không chỉ cần kỹ pháp cao, còn phải kiên nhẫn nữa. Như ta đây là học không nổi rồi!”
“Nha Nhi nhà chúng ta đúng là hiểu biết nhiều thật. Song diện tú quan trọng nhất là kỹ pháp và nhẫn nại, thêu cũng đặc biệt tốn thời gian. Nếu không phải muốn bán được nhiều bạc để xây căn nhà mới, ta cũng chẳng buồn thêu loại này. Một bức song diện tú, bằng ta thêu được mấy bức bình thường! Chỉ là không biết ở Hoài Dương này có bán được giá không thôi…” Nói xong, Ngô nương tử thở dài, chẳng biết ngày nào tháng nào mới có thể xây được nhà.
“Thẩm, cái khăn tay này cho con xem chút được không?”
Lưu Nha Nhi nâng niu quan sát chiếc khăn vuông, đóa mẫu đơn trên đó sống động như thật, như thể có thể ngửi được hương hoa nhè nhẹ.
Nàng đưa khăn lại cho Ngô nương tử, rồi hỏi: “Thẩm đã nghĩ đến việc thêu quạt tròn, bình phong hay đồ bày chưa? Tuy mấy thứ đó mất nhiều công hơn, nhưng chắc chắn bán được giá hơn khăn tay. Sắp vào hè rồi, nếu thẩm thêu quạt tròn, các phu nhân tiểu thư trong thành nhất định thích, cầm trên tay không cần khoe, người ta cũng nhìn ra điểm đặc biệt ngay!”
“Ai nha, sao ta không nghĩ ra nhỉ! Vẫn là Nha Nhi lanh lợi nhất!” Ngô nương tử vui quá không kiềm được, véo nhẹ một cái vào má Lưu Nha Nhi.
Vui xong, nàng lại buồn rầu: “Chỉ là không biết trong thêu phòng có thợ chuyên vẽ mẫu hay không… đến lúc đó lại phải mua mẫu nữa.”
“Hề hề. Cũng thường thôi, không thông minh lắm đâu! Ta tuy thêu không được, nhưng mẫu thì vẽ được vài cái. Thẩm muốn, ta vẽ cho mấy mẫu!”
“Thế thì tốt quá rồi! Không biết tương lai ai có phúc cưới được Nha Nhi của chúng ta nữa đây!”