Tổ Kiến Càng

Nơi edit những bộ truyện yêu thích.

Nhà Tú Tài Có Nữ Nhi Bận Làm Nông – Chương 80

← Chap trước
Chap sau →

Đầu tháng mười một, đã vào đông.

Nhưng vùng Lĩnh Nam lại chẳng có chút hơi thở mùa đông nào. Nắng chói chang, nhiệt độ tuy không nóng như giữa hè, nhưng cũng ấm áp như cuối xuân. Cho dù chỉ mặc áo mỏng, hễ bắt tay làm việc là vẫn đổ mồ hôi.

Cỏ dại xung quanh gò đất nhỏ đã bị nhổ sạch, thôn dân tự phát san lấp những đoạn đường lồi lõm. Bởi vì ngay chính giữa mảnh đất ấy, sẽ xây dựng một học đường. Ngôi học đường này, gắn liền với tương lai hậu thế của họ.

Vài ngày sau, gò đất nhỏ đã được san phẳng hoàn toàn, nền móng cũng được đào xong. Ngày học đường chính thức khởi công, có rất nhiều trai tráng tới giúp đủ thứ việc, mà không lấy tiền công. Họ nói nhà mình nghèo, không có tiền góp, chỉ có thể góp một phần sức lực mà thôi.

Tiền huyện thừa biết đó là tấm lòng của họ, bèn thuận theo ý, để mặc cho họ làm.

Thư hồi âm của đại cô Lưu gia cuối cùng cũng chậm rãi gửi tới Sài Tang.

Trong thư, đại cô nói trong nhà mọi việc đều ổn, bảo Lưu phụ chớ bận lòng, lại nói Hạ Mai vừa sinh được một tiểu oa nhi, nhũ danh là Tráng Tráng, đại danh còn chưa đặt, muốn để Lưu phụ, cữu gia gia đặt cho một đại danh.

Lưu Nha Nhi cầm thư đi tìm Lưu phụ, muốn bàn chuyện đặt tên cho chất tử. Người còn chưa bước vào sảnh, đã nghe thấy tiếng thở dài của Lưu phụ.

“Cha, người đang lo lắng chuyện gì vậy?” Vừa vào đến sảnh, Lưu Nha Nhi đã đặt bức thư lên án.

Lưu phụ ngẩng mắt, miễn cưỡng kéo khóe miệng cười cười, nói: “Nha Nhi chẳng phải đã nói muốn giàu thì phải làm đường trước sao? Nhưng quan đạo dẫn vào địa phận Sài Tang dài như vậy, nếu thật sự tu sửa, đâu phải mấy lạng bạc là xong.”

“Cha, chuyện sửa đường này con cũng có thể góp chút bạc, nhưng chỉ một mình con tài trợ thì e là không thích hợp lắm. Hì hì…”

Lưu phụ vừa thấy nụ cười của Lưu Nha Nhi, liền biết nàng lại đang ôm ý đồ gì, bèn hỏi: “A? Ý của Nha Nhi là?”

“Vẫn là cha hiểu con nhất!” Lưu Nha Nhi tinh nghịch giơ ngón tay cái lên.

Lưu phụ bật cười, nha đầu này đúng là tinh quái, cứ như chẳng bao giờ lớn.

“Cha à, Sài Tang tuy nghèo, nhưng ít nhiều vẫn có vài phú hộ, mà còn không phải dạng giàu tầm thường. Ví như Triệu gia ở phố Hùng Cứ, hay Thẩm gia ở hẻm Xương Bình!”

Lưu Nha Nhi cười đầy ẩn ý.

Lưu phụ không nói gì, chờ nàng nói tiếp.

“Trong thứ bậc sĩ nông công thương, thương nhân tuy tiền bạc đầy người, nhưng về danh phận lại đứng cuối. Nếu cha tung tin ra ngoài rằng, ai tài trợ cho việc tu sửa đường sá của huyện, sẽ được lập bia ghi công đức, bất kể quyên góp bao nhiêu, đều được khắc tên trên bia. Không chỉ vậy, danh sách những người tài trợ còn được trình báo lên triều đình. Có được thánh thượng ban thưởng hay không thì ta chưa bàn, nhưng riêng tấm bia công đức ấy có thể lưu truyền ngàn năm vạn năm. Tên được khắc trên bia do nha môn dựng lên, cũng xem như là vẻ vang cho gia tộc.”

“Cơ hội dương danh lập vạn như thế, cha nói xem, bọn họ có bỏ qua được không?”

Hai đốt ngón tay của Lưu Nha Nhi gõ nhịp đều đều lên mặt bàn.

“Thêm nữa, người quyên góp nhiều nhất, tên sẽ được khắc ở vị trí đầu tiên, chữ to nhất, còn được tô sơn đỏ. Cha đừng xem thường việc này, tên được khắc trên bia đồng nghĩa với sự công nhận của quan phủ. Đứng hàng đầu lại càng thể hiện đại công đức. Đối với bọn họ mà nói, đây đều là công lao có thể ghi vào gia phả. Con đoán rằng, hễ tin tức này vừa truyền ra, các thương hội dù ít dù nhiều cũng sẽ quyên góp.”

Lưu phụ hiểu được ý của nữ nhi, trong lòng nghĩ đây quả thật là một cách hay.

“Vẫn là nha đầu nhà ta thông minh nhất!”

Lưu Nha Nhi hơi ngượng ngùng, thu tay đang gõ bàn lại, cười gượng gạo.

Cách này thật ra không phải do nàng nghĩ ra. Kiếp trước, thị trấn của họ tu sửa cầu, trong trấn không có tiền, cũng dùng chính phương pháp này. Mỗi nhà mỗi hộ góp tiền, những nhà đã góp thì tên sẽ được khắc lên bia đá ở đầu cầu.

Phủ Triệu gia và phủ Thẩm gia trước kia muốn kết thân với Lưu gia, ngoài việc Tần Mục và Lưu Đông Thanh quả thực cũng khá ưu tú, thì phần nhiều là muốn leo lên mối quan hệ với Lưu gia.

Quan thất phẩm tuy nhỏ như hạt mè, nhưng ở Sài Tang thì lại giống như cả một bầu trời. Phàm là người tinh ranh một chút, gặp được cơ hội như vậy, nhất định sẽ mượn thế để lọt vào mắt Lưu phụ. Không chỉ có thể giành được tiếng tốt, mà biết đâu sau này huyện lệnh đại nhân vì chuyện này mà còn chiếu cố họ đôi phần.

Nghĩ tới đây, Lưu Nha Nhi lại nói: “Đến lúc đó, ai quyên bao nhiêu tiền cũng khắc hết lên. Một là để việc quyên góp minh bạch, tránh cho kẻ có lòng xấu mượn cớ vu khống cha tham ô nhận hối lộ. Hai là, lòng người vốn hư vinh, làm vậy cũng có thể khiến các phú hộ sinh tâm ganh đua. Biết đâu họ còn quyên nhiều thêm chút nữa. Dù sao số tiền này cũng dùng cho bá tánh, cũng không cần thấy áy náy trong lòng.”

“Được, cứ làm theo ý Nha Nhi. Ta sẽ lập tức soạn thảo kế hoạch.”

Đến lúc này, Lưu Nha Nhi mới nhớ tới bức thư trên bàn, nói: “À phải rồi cha, đại cô gửi thư tới. Hạ Mai tỷ sinh rồi, đại danh vẫn chưa đặt, đang đợi cha đặt cho. Nãi nãi bảo con nhắn với cha một tiếng, lúc rảnh thì nghĩ giúp, để con còn hồi âm cho đại cô.”

“Đợi lúc rảnh ta sẽ nghĩ. Chuyện tu sửa đường này ta phải lập xong chương trình trước đã.”

Lưu Nha Nhi biết cha đang gấp, cũng không khuyên nhủ gì thêm chuyện nghỉ ngơi, liền lui ra ngoài.

Giờ còn sớm, Lưu Nha Nhi ra khỏi đại sảnh chào hỏi Tiền thị một tiếng, rồi rời nha môn đến cửa tiệm.

Mấy ngày gần đây thật sự quá bận, nàng còn chưa kịp nói với Tần Mục mấy câu. Lúc bận thì không thấy gì, nhưng hễ rảnh ra một chút lại thấy nhớ ghê.

“Đinh đinh đinh —” Tiếng đinh sắt gõ vang lên lanh lảnh.

Lưu Nha Nhi lần theo âm thanh đi tới, quả nhiên thấy một lão nhân gánh gánh đi khắp phố bán kẹo mạch nha.

Nàng khoa tay múa chân một hồi với kẹo mạch nha, lão nhân gật đầu, nhắm đúng chỗ nàng chỉ, giơ tay nện xuống, chiếc đinh sắt lớn cắm vào đâu thì từ khối kẹo mạch nha nguyên vẹn tách ra ở đó.

Lão nhân lại chia phần kẹo Lưu Nha Nhi mua thành từng miếng nhỏ, rồi dùng giấy dầu gói lại.

Trong tiệm không có mấy khách, Tần Mục hiếm khi rảnh rỗi ngồi đọc sách. Thấy Lưu Nha Nhi tới, chàng vội đặt sách xuống đứng dậy định đi rót trà.

“Há miệng!”

Tần Mục không hiểu, nhưng vẫn dừng bước, ngoan ngoãn há miệng.

Một miếng kẹo mạch nha nhỏ được nhét vào miệng, vị ngọt lan từ đầu lưỡi khắp khoang miệng, ngọt thấu đến tận tim.

Tần Mục cười, má phồng lên nói: “Ngọt!”

Lưu Nha Nhi cũng nhón một miếng cho vào miệng, nheo mắt gật đầu phụ họa.

“À đúng rồi Nha Nhi, Tiền nãi nãi có ở nhà không? Lúc nãy nhân lúc rảnh ta có ra chợ rau, đặt với Trương đồ tể mười cân thịt heo, chắc lát nữa sẽ đưa đến phủ.”

Tần Mục nhẹ nhàng cắn kẹo mạch nha, phát hiện hơi dính răng.

“Huynh mua nhiều thịt heo thế để làm gì?” Lưu Nha Nhi vừa hỏi, vừa kéo người lên lầu hai, dù sao lúc này trong tiệm cũng không có khách.

Tần Mục dùng sức nhai mấy cái kẹo mạch nha, đợi đến khi tất cả tan thành dòng nước ngọt rồi nuốt xuống mới nói: “Qua năm mới xong, Đông Thanh ca sẽ vào núi Bách Mộc dạy học. Chỗ đó nghèo khổ, e là chẳng thấy được chút thịt cá nào. Ta nghĩ mua ít thịt về ướp, làm thành thịt khô, đợi khi Đông Thanh ca lên Bách Mộc thì mang theo.”

“Quả nhiên là huynh chu đáo.” Lưu Nha Nhi hiểu ra.

Tần Mục cũng không biết nghĩ tới điều gì, bỗng trở nên buồn bã: “Thật ra, Đông Thanh ca đâu cần phải đi chịu cái khổ đó. Huynh ấy…”

Đông Thanh ca trong lòng có khổ, có nút thắt, nhưng huynh ấy chưa bao giờ nói với người ngoài, lúc nào cũng tỏ ra vô tư, cười cợt, chẳng để tâm điều gì. Trông thì có vẻ không đứng đắn, nhưng nội tâm lại vô cùng tinh tế mềm mại.

Tần Mục nhớ lại lúc mình mới đến nhà Lưu gia, cùng Đông Thanh ca ở chung một phòng. Đông Thanh ca sợ hắn không quen, luôn tìm chuyện để nói cho hắn vui, che chở hắn như thân ca ca.

Hắn còn nhớ ở Tiểu Vương Trang, khi nghe Nha Nhi nói người lập công có thể xin phong cáo mệnh cho nữ quyến trong nhà, đêm đó Đông Thanh ca đã nói với hắn, đợi lớn lên, huynh ấy muốn làm Đại nguyên soái binh mã. Không chỉ bảo vệ được nãi  nãi và muội muội, mà còn có thể ra trận giết địch, giữ nước yên dân.

Sau này không chỉ một lần, Đông Thanh ca nói mình muốn đi tòng quân. Nói xong lại tự mình phủ nhận, chỉ lẩm bẩm: chưa tới lúc, chưa tới lúc.

Khi ấy Tần Mục không hiểu câu nói đó có ý gì, bèn hỏi là nghĩa thế nào. Đông Thanh ca nói, đợi con đường làm quan của Lưu thúc đi vào quỹ đạo, đợi Nha Nhi gả đi, thì chính là lúc huynh ấy ra chiến trường.

Hắn không hiểu vì sao Đông Thanh ca lại cố chấp muốn đi tòng quân như vậy, lại hỏi chẳng lẽ ở bên gia đình không tốt sao?

Đông Thanh ca đáp: “Không có nước, thì làm gì có nhà!”

Cũng chính ngày hôm đó, hắn biết được thân thế của mẫu thân Nha Nhi, cũng hiểu vì sao Đông Thanh ca lại có chấp niệm ấy.

Thì ra mẫu thân của Nha Nhi vốn là người Lâm Thành, ở cực bắc Đại Lương, ra khỏi Lâm Thành là thảo nguyên của người Tiên Ty.

Khi ấy Đại Lương và Tiên Ty, quanh năm chiến tranh lớn nhỏ không ngừng. Có một năm thời tiết lạnh khác thường, người Tiên Ty mất cỏ cho trâu ngựa, tộc nhân cũng không còn lương thực, liền nhắm ánh mắt vào Lâm Thành. Nhân lúc nửa đêm lẻn vào thành, tàn sát, đốt phá, cướp bóc.

Ngoại tổ phụ của Nha Nhi vốn là một tiểu tướng ở Lâm Thành, đã tử trận trong cuộc chiến ấy. Cùng chết còn có ngoại tổ mẫu và đại cữu cữu của Nha Nhi. Chỉ có mẫu thân của Nha Nhi một mình trốn thoát, sau đó lưu lạc đến Sài Tang, được Lưu thúc cứu giúp.

Đông Thanh ca cũng là vô tình biết được chuyện này. Khi đó huynh ấy mới ba tuổi, vừa mới biết nhớ sự việc. Nhưng bi kịch của mẫu thân đã gieo một hạt giống trong tâm hồn non nớt của huynh ấy, rồi dần dần nảy mầm, lớn lên.

“Thiên phú đọc sách của ta không bằng cha ta. Thay vì lãng phí mấy năm, thậm chí mấy chục năm để tranh một công danh, chi bằng ra chiến trường giết sạch quân địch, bảo vệ một phương bình yên.”

“Nhưng bây giờ ta chưa thể đi được. Ta đi rồi thì nãi nãi ta phải làm sao, Nha Nhi phải làm sao? Chỉ mong lần thi mùa xuân này cha ta có thể đỗ cao, đến lúc đó có cha ta che chở, ta mới có thể đi tìm bọn giặc kia mà tính sổ những mối thù quốc gia, thù nhà năm xưa!”

Lưu Đông Thanh nằm trên giường đất, nhìn lên trần nhà, lẩm bẩm một mình.

Năm đó, Lưu Đông Thanh mười bảy tuổi.

Sau này, Lưu thúc thi đỗ, Đông Thanh ca tưởng rằng mình cuối cùng cũng có thể tiến về phía giấc mộng, thì một tờ bổ nhiệm lại kéo huynh ấy trở về.

Lĩnh Nam xa xôi hẻo lánh, là vùng núi nghèo hiểm ác, lại giáp với dị tộc Xiêm La. Huynh ấy không yên tâm về cha mình, nên đã theo cha cùng tới Sài Tang.

Chỉ là sau khi đến Sài Tang, Đông Thanh ca chưa từng nhắc lại chuyện ra trận giết địch nữa.

Tần Mục nghĩ, có lẽ là hoàn cảnh hiện tại của Sài Tang khiến Đông Thanh ca không thể yên lòng.

“Đông Thanh ca, huynh thật sự muốn vào núi Bách Mộc sao?” Đêm đó, Tần Mục hỏi.

Lưu Đông Thanh đứng bên cửa sổ, không quay đầu lại, chỉ thản nhiên đáp: “Ừ. Không đi được chiến trường thì vào núi dạy hài tử. Biết đọc biết viết lúc nào cũng có ích, biết đâu sau này chúng có thể dựa vào đó mà tìm được con đường sống. Dân chúng sống khá hơn, quốc lực cũng sẽ mạnh lên đôi phần. Coi như… gián tiếp góp chút sức cho Đại Lương vậy!”

← Chap trước
Chap sau →