Tổ Kiến Càng

Nơi edit những bộ truyện yêu thích.

Nhà Tú Tài Có Nữ Nhi Bận Làm Nông – Chương 82

← Chap trước
Chap sau →

Sáng sớm ngày hôm sau, pháp lệnh ghi rõ việc ngược đãi nữ tử sẽ bị xử phạt, cùng với cáo thị về việc quyên góp tu đường và dựng bia công đức, đều được dán ra ngoài.

Cáo thị vừa mới dán xong, đã có một đám người vây lại xem. Nhưng trong số đó, tám chín phần là người không biết chữ.

“Quan sai tiểu ca, cáo thị này viết những gì thế?” Có người trong đám đông hỏi.

Người dán cáo thị chính là Hà Huy, hắn chỉ vào cáo thị, đọc từng chữ từng câu nội dung bên trên.

Cả đám người lập tức xôn xao!

Việc quyên góp tu đường thì họ còn hiểu được, đó là chuyện tốt lớn. Nhưng ngược đãi nữ nhi mà lại thành phạm pháp, còn phải ăn đòn? Lại còn nói nữ nhi cũng có thể đi học.

Học cái gì chứ? Nữ nhân lớn lên chẳng phải gả chồng là xong sao? Không phải nên tam tòng tứ đức, ở nhà giặt giũ nấu nướng, hầu hạ công công bà bà, chăm sóc hài tử à?

Đọc sách làm gì? Biết chữ để làm gì? Chẳng có tác dụng chó gì cả!

“Lưu đại nhân này có phải là đầu óc có vấn đề không?” Người nói chỉ tay vào đầu mình.

Người đồng hành bị hành động ấy làm cho hoảng sợ, vội vàng bẻ tay hắn xuống, nghiêm giọng quát: “Quan sai còn đứng ngay đây, ngươi dám nói về Lưu đại nhân như thế, là chán sống rồi sao?”

Gã hán tử bị mắng có phần không phục, nhưng trước uy thế của nha dịch cũng chỉ bĩu môi, không dám nói thêm lời nào.

Có người biết chuyện xảy ra hôm qua liền lên tiếng: “Theo ta thấy, chuyện này nhất định là do Lưu đại tiểu thư đề xuất! Cho dù không phải thì cũng chẳng thoát khỏi liên quan tới Lưu đại tiểu thư!”

Nghe vậy, gã hán tử ban nãy càng thêm khinh thường, hừ mũi nói: “Hừ, cũng chỉ có Lưu đại nhân mới coi nữ nhi như tròng mắt trong mắt. Nữ nhi nói gì là nghe nấy, còn vì thế mà ban bố pháp lệnh. Chậc chậc chậc, đúng là hiếm thấy.”

Kiều đại nương nghe vậy liền không vui, phản bác: “Ngươi hiểu cái rắm gì! Thương nữ nhi thì sao nào? Nữ nhi là đứa tốt, lại là con mình sinh ra, sao lại không thể thương? Ngươi Ngưu Lão Lục sinh ba đứa nhi tử, suốt ngày làm bộ ta đây ghê gớm lắm, nhưng thử hỏi đứa nào của ngươi nên thân? Không cần so với Lưu đại tiểu thư, chỉ nói tiểu khuê nữ nhà Hoè Hoa trong thôn thôi, nhi tử ngươi có đứa nào sánh nổi nàng không? Mấy đứa nhi tử của ngươi, làm gì cũng không xong, chỉ giỏi nhất khoản ăn cơm, phì!”

“Lão bà tử thối tha, bà nói cái gì thế hả?” Ngưu Lão Lục bị chọc trúng chỗ đau, trừng mắt định động tay động chân.

Nhưng Kiều đại nương đâu phải quả hồng mềm, không giận mà còn cười lạnh: “Sao hả? Nói sự thật chẳng lẽ cũng phạm pháp à? Thời buổi này không cho nói thật sao? Ta phải đi hỏi Lưu đại nhân xem, còn có cho người ta nói lời thật nữa hay không!”

“Ngươi …” Ngưu Lão Lục tức đến nghẹn họng, chỉ biết nổi giận vô ích.

Kiều đại nương nhướng mày, khoanh tay trước ngực, cười khinh miệt: “Đừng có ngươi ngươi ta ta nữa! Mấy đứa nhi tử của ngươi là thứ gì, trong lòng ngươi chẳng phải rõ như gương sao. Ngươi có chiều nhi tử thế nào cũng chẳng ai nói, nhưng dựa vào đâu mà ngươi dám bịa chuyện, nói xấu Lưu đại nhân và Lưu tiểu thư?”

“Còn ngươi, với các ngươi nữa!”

Kiều đại nương chỉ tay mắng luôn những người xung quanh:

“Nếu không có xưởng nước tương của Lưu tiểu thư, ngươi đi đâu mà làm công? Đậu nành ngươi trồng bán cho ai? Nếu không có đại nhân và tiểu thư, các ngươi còn chẳng biết đang lang thang ăn gió uống sương ở xó nào! Giờ thì bưng bát lên ăn thịt, đặt bát xuống lại quay sang chửi người, chiều hư các ngươi rồi!”

Lần này không chỉ Ngưu Lão Lục, mà cả đám người đứng xung quanh cũng bị Kiều đại nương chỉ mũi mắng cho một trận.

“Thôi thôi, lão tỷ bớt giận đi!”

Một phụ nhân đứng cạnh Kiều đại nương vỗ nhẹ cánh tay bà, dịu giọng khuyên nhủ.

Kiều đại nương chẳng thèm nhận tình, tức giận nói: “Ta không nuốt trôi được cục tức này! Ta cũng từng làm nữ nhi, ta cũng có nữ nhi. Nữ nhân trong thế đạo này khó khăn thế nào, lão muội chẳng lẽ không biết sao? Mọi người đều là đầu thai làm người, dựa vào đâu mà nữ nhân sinh ra đã thấp hơn người khác một bậc? Nay Lưu đại nhân và Lưu tiểu thư tới đây, thương xót nỗi khó xử của chúng ta là nữ tử nên mới ban bố pháp lệnh. Thế mà bọn người này lại không vừa mắt, buông lời thị phi!”

Hà Huy dán cáo thị xong vẫn bị vây giữa đám đông, lúc này bị ồn ào đến đau cả đầu, liền quát:

“Đủ rồi chưa hả? Còn ầm ĩ nữa ta ghép cho các ngươi tội tụ tập gây rối, bắt hết về nha môn!”

Đám người vây xem vừa nghe nói bị bắt vào nha môn liền đồng loạt im bặt.

“Còn không giải tán đi?”

“Rào!” Đám đông tan tác trong nháy mắt.

Theo việc cáo thị được dán ra, các phú hộ trong thành cũng bắt đầu đứng ngồi không yên. Ai nấy đều đang tính toán xem lần này quyên góp sửa đường nên góp bao nhiêu cho hợp lý, góp thế nào mới có thể khiến tên mình được khắc ở hàng đầu tiên trên bia công đức.

“Lão gia, ngài đừng đi qua đi lại nữa, làm thiếp chóng cả mặt rồi!” Triệu phu nhân xoa trán, có chút bực bội.

Triệu lão gia vén vạt áo, vẻ mặt đầy phiền não, hỏi: “Ta không bực sao được! Phu nhân nàng nói xem, chuyện quyên tiền sửa đường này, nhà ta nên góp bao nhiêu thì hợp đây?”

Triệu phu nhân không nghĩ ra được, chẳng qua chỉ là quyên tiền thôi, lão gia nhà bà có gì mà phải bồn chồn như vậy. Quyên ba năm trăm lạng coi như cho có lệ là được rồi, nếu lão gia coi trọng thể diện thì quyên hẳn một ngàn lạng. Dù sao nhà họ cũng chẳng thiếu tiền. Nghĩ vậy liền nói: “Muốn quyên bao nhiêu thì quyên bấy nhiêu thôi, có gì mà phải phiền?”

“Hừ, phụ nhân nữ tử tóc dài kiến thức ngắn!”

Cái chén trong tay bị đặt mạnh xuống bàn phát ra tiếng động. Triệu phu nhân cũng không biết mình nói sai chỗ nào mà khiến lão gia khó chịu như vậy, chỉ vô tội nhìn sang.

Triệu lão gia liếc bà một cái, rồi không vui nói: “Nhà ta có Vu Nhi đắc tội với Lưu gia. Vì chuyện này, ta muốn kết giao với Lưu đại nhân mà cũng chẳng dám ló mặt trước ông ấy. Giờ đây chính là cơ hội tốt để tạo ấn tượng trước mặt Lưu đại nhân.”

Triệu lão gia còn chưa nói xong, Triệu phu nhân đã chen vào:

“Chuyện đó qua lâu rồi còn gì? Với lại Lưu đại nhân cũng đâu có đến nhà ta hỏi tội, biết đâu người ta căn bản chẳng để tâm, hoặc đã sớm quên rồi.”

“Hừ, nàng nói nhẹ nhàng thật! Đổi lại là nàng, nàng có thể không để tâm, có thể quên sao? Lưu đại nhân không hỏi tội, không so đo với nhà ta, trong lòng hẳn đã đóng dấu Triệu gia chúng ta là loại mắt chó coi thường người khác! Nếu là mấy vị tri huyện trước kia, ta cũng chẳng cần phải đi nịnh nọt, dù sao họ cũng chẳng ở lại bao lâu rồi sẽ đi.”

“Nhưng nàng nhìn xem, Lưu đại nhân đã nhậm chức ở Sài Tang hai năm rồi, dẫn dắt bách tính đại lực canh tác, lại sửa đường, xây học đường. Nghe nói ngay cả tri phủ đại nhân cũng nể ông ấy mấy phần. Sài Tang bây giờ không còn như trước kia nữa, biết đâu tương lai dưới sự cai trị của Lưu đại nhân sẽ tiền đồ vô lượng. Không chỉ Sài Tang, con đường làm quan của Lưu đại nhân cũng vậy. Chúng ta nếu không nhân cơ hội này mà vãn hồi hình tượng trước mặt đại nhân, e rằng sau này chẳng còn cơ hội nữa.”

Triệu lão gia nhìn ra sân ngoài đại sảnh, trầm ngâm một lúc, rồi thản nhiên nói: “Trông cậy vào nhi tử chúng ta đi con đường khoa cử, thi đỗ công danh thì sợ là vô vọng. Lần quyên góp này, nếu chúng ta là người quyên nhiều nhất, không chỉ được khắc tên ở vị trí đầu tiên trên bia công đức, mà còn được ghi vào huyện chí. Việc này cũng coi như làm rạng danh môn hộ Triệu gia.”

Sau khi Triệu lão gia giải thích rõ ràng từng tầng lợi danh trong đó, Triệu phu nhân mới bừng tỉnh, hạ giọng hỏi: “Vậy lão gia, nhà ta quyên bao nhiêu?”

“Ngày mai ta sẽ đến trướng phòng rút ra một vạn lạng. Nhưng chuyện này nàng đừng để người khác biết, ngay cả mấy muội tử bên nhà mẹ đẻ của nàng cũng không được nói. Hừ, đám người kia đều đang nhòm ngó cơ hội lần này đấy!” Triệu lão gia có phần không chờ nổi, giờ đã muốn đi trướng phòng ngay.

Lục tục, những người quyên góp đều mang bạc đến chỗ Tiền huyện thừa, chủ bạ cũng ghi chép từng khoản một.

Có hào thân quyên mấy ngàn lạng, có thương hộ quyên một hai trăm lạng, cũng có bách tính chỉ quyên mấy chục đồng tiền đồng.

Cuối cùng thống kê, tổng số bạc quyên góp tu sửa đường sá là mười chín ngàn không trăm bảy mươi ba lạng hai tiền.

Lưu Nha Nhi lật sổ sách mà tấm tắc không thôi. Nàng vốn nghĩ lần quyên góp này, gom được ba năm ngàn lạng đã là cực hạn, không ngờ lại quyên được gần hai vạn lạng. Khoảng cách giàu nghèo ở Sài Tang quả thật không phải bình thường.

“Cha, bia công đức thì nhất thời chưa thể khắc xong. Chi bằng cha bảo người chép trước tên những người quyên góp cùng số tiền họ quyên, rồi dán ra ngoài. Ngoài ra, những nhà quyên mấy ngàn đến cả vạn lạng, ta cho người làm một tấm biển, cha đích thân đề chữ, rồi đánh trống gõ chiêng mang đến tận nhà. Còn những người quyên ít thì không làm biển, cha chỉ cần đề chữ trên giấy là được.” Lưu Nha Nhi chợt nhớ tới kiếp trước, hồi nhỏ nhà nàng từng treo tấm bảng “Gia đình năm tốt”.

Đã móc bạc của người ta rồi, không thể cho lợi ích thực tế thì cho một cái danh dự cũng là chuyện tốt. Còn có thể khiến mọi người tăng thêm cảm giác vinh dự tập thể.

Lưu phụ lần đầu nghe cách nói này, liền hỏi: “Vậy thì nên đề chữ gì?”

Lưu Nha Nhi nghĩ ngợi một lúc lâu, nghĩ mãi cũng không biết thời cổ đại ban cho vinh dự thì thường đề chữ gì, dứt khoát không nghĩ nữa, cứ theo ý mình mà đáp: “Cứ đề ‘Quang vinh chi gia’ đi! Ý là họ đã có cống hiến cho Sài Tang, là chuyện vô cùng vinh dự! Chỉ là nhiều nhà như vậy, đề chữ lên e rằng sẽ làm cha vất vả.”

“Có gì mà vất vả, chỉ viết mấy chữ thôi!” Lưu phụ cười cười, tiểu áo bông của ông thật biết quan tâm.

“Cha, vậy con đi tìm người đặt làm biển hiệu ngay đây!”

“Đi đi, trên đường cẩn thận một chút, biết chưa?”

Lời dặn của Lựu phụ còn chưa dứt, Lưu Nha Nhi đã chẳng thấy bóng dáng đâu nữa.

“Nha đầu này!” Lưu phụ cười lắc đầu. Nụ cười ấy dịu dàng, tràn đầy hạnh phúc.

Các hài tử ông đều đã trưởng thành, mà vẫn còn ở bên cạnh, thật tốt.

Lưu Nha Nhi đặt xong biển hiệu trở về phủ, liền thấy trên bàn và dưới đất trong đại sảnh trải đầy những tờ giấy trắng viết bốn chữ “Quang vinh chi gia”. Tiền huyện thừa và Hồ sư gia cẩn thận cầm những tờ giấy đã viết xong. Một người trải tờ mới viết xuống đất, một người thu lại những tờ mực đã khô.

“Đại tiểu thư!”

“Nha Nhi về rồi à? Có mệt không, mau ra hậu viện nghỉ ngơi đi!”

Lưu Nha Nhi lắc đầu nói không mệt, rồi cẩn thận bước chân tìm một khoảng trống để đứng: “Cha, con có việc muốn nói với cha. Vừa hay Hồ bá và Tiền bá đều ở đây, con cũng khỏi phải gọi riêng.”

“Ồ? Nha Nhi có chuyện gì?” Lưu phụ đặt bút xuống.

Tiền huyện thừa và Hồ sư gia cũng dừng tay, đứng thẳng người lên.

Lưu Nha Nhi đứng thẳng lưng, nghiêm túc nói: “Đất đỏ ở Sài Tang rất dính, hễ mưa xuống là lầy lội không chịu nổi. Mưa lớn hơn chút, dẫm một bước là nhấc chân không lên nổi. Sửa đường là kế sinh nhai của dân, hơn nữa lần này số bạc quyên góp được rất nhiều. Đã dùng tiền để sửa đường, thì ta nên làm cho ra làm. Ngoài việc mở rộng, mặt đường nên dùng tam hợp thổ để lát!”

“Tam hợp thổ là loại đất gì?”

Tiền huyện thừa khiêm tốn hỏi.

Sống hơn bốn mươi năm, ông ta đã nghe qua đất đen, đất vàng, đất đỏ, đây là lần đầu nghe tới tam hợp thổ.

Lưu phụ cũng tò mò, nhìn sang Lưu Nha Nhi.

“Tam hợp thổ là dùng vôi tôi, đất sét, cát hoặc đá vụn trộn lại, rồi tưới thêm dầu trẩu và nước hồ nếp. Loại đất này sau khi đầm chặt sẽ vô cùng kiên cố, không nói trăm năm, mà ngàn năm cũng không đè hỏng. Hơn nữa, tiền sửa đường vốn là tiền quyên góp, đến lúc mua vật liệu, tiêu bao nhiêu bạc, chúng ta sẽ ghi chép rõ ràng từng khoản rồi dán ra ngoài. Cũng để bách tính biết số tiền đó được dùng vào đâu!”

Thật ra, tam hợp thổ vốn là phương pháp của người xưa, ban đầu dùng trong lăng mộ hoàng gia quý tộc, đến thời Tống – Minh mới được ứng dụng rộng rãi trong dân sinh. Tường thành Minh ở Nam Kinh chính là được đúc bằng tam hợp thổ.

Lưu Nha Nhi không biết chế tạo xi măng, đành dùng tam hợp thổ để thay thế. Nếu không, chỉ mở rộng đường rồi rải đất đỏ, chẳng mấy năm sau lại ổ gà ổ voi, vậy sửa đường còn có ý nghĩa gì nữa?

← Chap trước
Chap sau →