Sau hội đua thuyền rồng, danh tiếng của Sài Tang trong phạm vi phủ Vĩnh Bình coi như đã truyền đi khắp nơi.
Nếu là trước kia, khi các huyện khác nhắc tới Sài Tang, điều người ta nghĩ đến đầu tiên chính là hai chữ nghèo, hoang vu, trong huyện nha thậm chí còn chẳng có lấy một người chủ sự. Chín huyện của Vĩnh Bình, nơi nào cũng có người từ Sài Tang chạy nạn tới.
Nhưng nay nhắc tới Sài Tang, người ta bàn luận về quan đạo bằng phẳng ngoài thành, rắn chắc vô cùng, nói rằng dù vật nặng đến đâu đè lên cũng không tạo nổi một cái hố. Rồi còn nhắc tới nước tương chỉ riêng Sài Tang mới có, không chỉ quý hiếm mà còn bán chạy đến mức kinh người, kéo theo thương nhân các nơi đổ về. Nhờ đó mà các cửa hàng trong thành và những nông hộ trồng đậu trong thôn đều được hưởng lợi.
Điều được nhắc đến nhiều hơn nữa, chính là Lưu tri huyện, người đã biến Sài Tang thành bộ dạng như ngày hôm nay, cùng một đôi nhi nữ của ông.
Tin tức vừa truyền ra, những người chạy nạn trước kia còn do dự chuyện hồi hương, rốt cuộc cũng hạ quyết tâm trở về quê cũ.
May mắn thay, vẫn chưa quá ba năm, ruộng đất của họ vẫn còn đó.
Vào tháng mười, mẻ đậu mốc mới lên men được nhập kho, Lưu Nha Nhi lại bận rộn với chuyện mía. Giống như năm ngoái, ai muốn trồng mía thì đến nha môn đăng ký nhận phần giống, ai đến trước thì được trước, phát hết thì thôi.
Theo tính toán tăng dần, năm nay có thể có hơn hai trăm mẫu đất trồng mía. Lưu Nha Nhi vốn nghĩ rằng, sau khi đã có đậu nành và cải dầu, việc khuyến khích trồng mía sẽ dễ dàng hơn. Nhưng nào ngờ, những người tới nhận phần giống mía năm nay vẫn chỉ là những người của năm ngoái. Chỉ có vài hộ là nhận nhiều hơn so với năm trước. Riêng nhà Hồ lão đại đã đặt giống cho ba mươi mẫu đất.
“Năm ngoái Lưu đại nhân đã bảo trồng mía, mà cũng chẳng nói rõ mía trồng để làm gì.” Có người bắt đầu bàn tán.
Một người khác tiếp lời: “Ai mà biết được? Mía này ngoài việc cho bọn hài tử ngọt miệng ra thì còn làm được gì? Làm thạch mật sao? Phải cần bao nhiêu mía mới làm ra được một miếng thạch mật? Rõ ràng là việc buôn bán lỗ vốn mà! Không hiểu Lưu tiểu thư tốn bao công sức để làm gì nữa?”
“Làm gì à? Tiểu cô nương chưa từng quán xuyến gia đình, không biết gạo dầu đắt rẻ thôi! Dù sao nàng ấy cũng là tiểu thư quan gia, không lo ăn lo mặc, thích lăn lộn thì cứ lăn lộn thôi. Còn ta thì trồng đậu nành với cải dầu, nhân lúc còn được miễn thuế hai năm, mỗi năm làm một vụ cũng để dành được bảy tám lạng bạc!”
“Đúng thế, ta cũng nghĩ như vậy!”
Trong đại sảnh, Lưu Nha Nhi nghe Tiền huyện thừa báo cáo, trong lòng vừa tức vừa tiếc, giọng nói mang theo mấy phần bực bội: “Cha, cha cho người viết một tờ cáo thị dán ra ngoài. Từ năm sau, ai muốn trồng mía thì tự bỏ tiền mua giống, huyện nha sẽ không còn cung cấp nữa!”
“Nhưng Nha Nhi, việc này…”
Lưu Nha Nhi có phần tức giận nói: “Cơ hội chỉ dành cho người có chuẩn bị. Không có lý nào cơm đã bón tới miệng rồi mà họ vẫn không ăn, chúng ta còn phải dỗ dành họ. Cha đối với Sài Tang thế nào, con nghĩ trong lòng họ đều có thước đo cả. Chúng ta đã nói rõ mía trồng ra sẽ được thu mua toàn bộ, vậy mà kết quả thì sao? Nói cho cùng, vẫn là họ chưa hoàn toàn tin tưởng cha, hoặc là không tin được con.”
“Người ta vẫn nói gan lớn thì ăn no, gan nhỏ thì chết đói! Nếu họ đã muốn cầu an ổn, vậy thì cứ an ổn đi, trồng đậu nành với cải dầu cũng đủ giải quyết miếng ăn.”
Tiền huyện thừa do dự hồi lâu, cuối cùng vẫn hỏi: “Vì sao đại tiểu thư không nói rõ cho họ biết công dụng của mía?”
“Tiền bá, đến giờ ta còn chưa nói công dụng của mía cho bá và Hồ bá biết, thì sao dám công bố cho thiên hạ? Không phải ta không tin Tiền bá và Hồ bá, mà là công dụng ấy đủ để làm chấn động thiên hạ. Để tránh gây ra phiền phức không cần thiết, tạm thời cũng chỉ có thể giấu kín.” Lưu Nha Nhi cũng rất bất đắc dĩ. Trước khi đường mía được làm ra, nàng không dám để lộ nửa điểm tin tức, sợ xảy ra sơ suất.
Lời này vừa nói ra, trong lòng Tiền huyện thừa và Hồ sư gia đều giật mình, rồi lập tức có tính toán riêng.
Người ngoài họ không quản được, nhưng những người thân trong nhà thì nhất định phải tìm cách khuyên bảo cùng nhau trồng mía. Về sau, e rằng sẽ có một phen phú quý lớn.
Không biết Tiền, Hồ hai người đã khuyên nhủ thế nào, mà cả nhà họ cùng với thân thích mỗi bên lại tới nha môn, nhận thêm bảy mươi mẫu phần giống. Tính ra, năm sau tổng diện tích trồng mía sẽ là một trăm bốn mươi bảy mẫu.
Mía phải tới tháng ba năm sau mới trồng. Nhân lúc khoảng thời gian trống này, Lưu Nha Nhi lại dẫn người vào núi Bách Mộc một chuyến.
Điều kiện tự nhiên trong núi Bách Mộc vô cùng ưu việt, là nơi tuyệt hảo để trồng trà. Sau lần tới Bách Mộc Sơn trước đó, trong lòng nàng đã có dự định này.
Sau khi trở về, nàng lục tìm đọc không ít nông thư, lại bàn bạc với Lưu phụ, rồi từ huyện khác mời về một lão nông dày dạn kinh nghiệm, cùng lên núi Bách Mộc khảo sát thực địa. Chỉ sau khi xác định việc trồng trà là khả thi, nàng mới chính thức quyết định.
Nhưng núi rừng không giống ruộng đất, không phải nhà nào cũng có, có núi thuộc tư nhân, có núi thuộc công. Để giải quyết sinh kế cho toàn thể dân núi, Lưu Nha Nhi cắn răng một cái, trực tiếp bao thầu mấy ngọn núi thích hợp trồng trà. Khai khẩn đất núi, giâm cành, hái chè, sao chè, tất cả đều do dân núi làm, làm một ngày thì thanh toán tiền công một ngày.
“Đại tiểu thư, ngài tới rồi! Chúng ta đã làm theo dặn dò của ngài, đất núi đã cày xới hai lượt, rãnh trồng cũng đã đào xong, chỉ chờ ngài tới thôi!”
Lưu Nha Nhi gật đầu, còn chưa kịp vào thôn uống một ngụm nước, đã theo trưởng thôn Lâm tới xem khu núi trà vừa khai mở.
Sườn núi hướng nắng được san thành từng bậc thang, rễ cây và đá vụn trên các bậc đã được dọn sạch, từng rãnh trồng được đào ngay ngắn.
Lưu Nha Nhi nắm một nắm đất núi, dùng tay nghiền thử, hỏi: “Chuyện trà giống đã chuẩn bị xong chưa?”
“Ta đã dặn dò hai thôn khác rồi. Đợi tới ngày giâm cành là sẽ đi cắt giống. Ba thôn chúng ta đều nằm trong núi Bách Mộc, cả vùng núi này cùng thuộc một mạch núi. Trà các nhà trồng đều là trà dại đào từ trong núi về. Ta xem rồi, đều là cùng một giống.” Trưởng thôn Lâm theo sau Lưu Nha Nhi, cẩn thận báo cáo.
“Làm phiền thôn trưởng Lâm rồi!”
Thôn trưởng Lâm xua tay “hầy” một tiếng: “Không phiền đâu, ta có lĩnh tiền công mà, sao lại gọi là phiền được? À, vị sư phụ trồng trà ấy, chúng ta sợ ông ấy ở bên này không quen, nên đã dựng riêng cho ông một căn nhà. Ông ấy cũng không biết mấy ngày nay tiểu thư sẽ tới, hôm kia còn nói chuyến này đi ra ngoài đã lâu, muốn về nhà thăm một chuyến. Lão già ta nghĩ cũng phải, bèn để Lai Phúc đi cùng ông ấy về Mộc Dương, chắc phải mười ngày nửa tháng nữa mới quay lại.”
Xem xong các rãnh trồng trên núi, Lưu Nha Nhi cẩn thận đi xuống núi, nói: “Không sao, dù sao cây trà giống phải đến cuối tháng mới giâm cành, đến lúc đó ta lại lên một chuyến là được.”
Người ta vẫn nói lên núi thì dễ, xuống núi mới khó. Đồi trà được xẻ bậc khá dốc, lại có nhiều bậc thềm, chỉ cần sơ sẩy một chút là rất dễ trượt ngã.
Thôn trưởng Lâm thấy Lưu Nha Nhi đi khá vất vả, rất muốn tiến lên đỡ một tay, nhưng ngại thân phận nên vẫn không đưa tay ra. Xem ra lần sau lên núi, phải gọi bà nhà mình hoặc con dâu đi theo mới được. Bằng không, nếu thiên kim nhà tri huyện lỡ bị ngã thì ông gánh không nổi trách nhiệm.
Lưu Nha Nhi dĩ nhiên không biết những suy nghĩ trong lòng thôn trưởng Lâm, nếu biết chắc nàng sẽ phản bác ngay. nàng đâu có yếu ớt đến vậy.
Xuống núi rồi, Lưu Nha Nhi định ghé qua học đường thăm ca ca, nhưng còn chưa ra khỏi thôn đã bị thôn trưởng Lâm mời tới nhà ngồi chơi.
“Tiểu thư khó lắm mới đến một lần, nhất định phải ở lại ăn bữa cơm!”
Lưu Nha Nhi biết thôn trưởng Lâm thật lòng cảm kích mình, nhưng vẫn khéo léo từ chối: “Đa tạ ý tốt của thôn trưởng, chỉ là trời đã không còn sớm, nếu không ra khỏi núi ngay e rằng phải đi đường ban đêm.”
“Tiểu thư đừng lo, lúc dựng nhà cho sư phụ trồng trà, chúng ta tiện tay dựng thêm mấy gian nữa, vốn là để sau này các vị vào núi còn có chỗ nghỉ. Chăn đệm nhà ta có cái mới, tiểu thư cứ yên tâm, chăn đệm đó là đồ hồi môn bà nhà ta mang theo, chưa từng nỡ dùng lần nào.”
Lưu Nha Nhi thầm nghĩ, thôn trưởng Lâm đây là muốn giữ nàng lại ngủ qua đêm trong núi rồi.
Nàng còn định từ chối, thì lại nghe thôn trưởng nói tiếp: “Nhị nhi tử nhà ta cùng mấy thanh niên trong thôn đã vào sâu trong núi phía sau săn bắn rồi. Trước khi đi họ còn dặn, hôm nay nhất định phải tiếp đãi thật chu đáo tiểu thư và Lưu công tử. Ngay cả hai thôn bên cạnh, ta cũng đã cho người đi mời thôn trưởng của họ. Nếu tiểu thư đi mất, lát nữa họ tới mà không gặp được, lão già này biết ăn nói sao cho phải đây!”
Uy hiếp, đúng là uy hiếp trắng trợn!
“Tiểu thư à, Lưu đại nhân đã xây học đường cho chúng ta trong núi, để bọn hài tử có chữ mà học. Lưu công tử lại đích thân vào tận núi sâu dạy học. Tiểu thư vì muốn cho thôn dân miền núi chúng ta có bữa cơm no, mới bao mấy ngọn núi này, thuê chúng ta trồng trà. Chúng ta trong lòng đều hiểu, đại nhân là vì muốn tốt cho chúng ta. Vàng bạc châu báu thì chúng ta không có, lại không vào được thành để đích thân cảm tạ Lưu đại nhân. Nay tiểu thư khó khăn lắm mới tới, xin hãy để chúng ta được bày tỏ chút lòng thành, ở lại dùng bữa cơm được không?”
Thôn trưởng Lâm nói tới đây thì quỳ sụp xuống, xúc động đến đỏ hoe cả vành mắt.
“Thôn trưởng Lâm, ngài làm vậy là sao, mau đứng lên đi. Ta là bậc hậu bối, sao dám nhận đại lễ này. Ta ở lại là được, ngài mau đứng dậy!” Lưu Nha Nhi mềm lòng, đành đồng ý, ở lại một đêm thì ở lại một đêm vậy.
Được nàng đồng ý, thôn trưởng Lâm cười tươi như hài tử, đứng dậy nói: “Tiểu thư đừng cười lão nhân này. Tuy nói nam nhi dưới gối có vàng, trên quỳ trời đất, dưới quỳ cha nương, người ngoài không thể tùy tiện quỳ. Nhưng đời đời chúng tôi sống trong núi sâu này, dựa vào mấy mẫu ruộng cằn cỗi và săn bắn mà sống. Lúa ngoài ruộng chẳng thu được mấy hạt, thú rừng trong núi lại ngày càng ít. Chẳng nói đến ấm no, chỉ cần không chết đói đã phải tạ ơn trời đất rồi.”
“Chúng ta cũng từng nghĩ tới việc ra khỏi núi mưu sinh, nhưng một chữ cũng không biết, sức lực lại chẳng có bao nhiêu, thì biết đi đâu kiếm sống? Cuối cùng đành bị nhốt trong núi này, ngày nào hay ngày ấy. Thế nhưng Lưu đại nhân tới Sài Tang, trong lòng vẫn còn nhớ tới dân núi Bách Mộc Sơn chúng ta, đem học đường xây thẳng vào tận núi sâu. Lão nhân ta nghe nói, chỉ cần biết đọc biết viết, ra tới thành là có thể làm tiên sinh ghi sổ, còn có thể viết thư hộ người khác, đó là bản lĩnh lớn lao lắm đấy!”
Trưởng thôn Lâm ngẩng đầu nhìn về phía học đường không xa, lờ mờ còn nghe được tiếng bọn hài tử đọc sách, đôi mắt ông ươn ướt, lại nói tiếp: “Những lão nhân chúng ta vốn nghĩ rằng, chỉ cần bọn hài tử sau này có con đường đi, thì dù chúng ta có xuống dưới lòng đất cũng có thể yên lòng. Sau này, tiểu thư lại nói lên núi trồng trà, để những lão nhân như chúng ta cũng có việc làm. Không sợ tiểu thư chê cười, lão nhân ta sống tạm bợ hơn sáu mươi năm, đây là lần đầu tiên được lĩnh tiền công! Với những người dân miền núi như chúng ta, tiểu thư, Lưu đại nhân, còn có Lưu công tử, đã cho chúng ta niềm hy vọng. Vì vậy, cái quỳ này của lão nhân, tiểu thư hoàn toàn xứng đáng nhận!”