Ngày làm tiệc tân gia hôm ấy, trời vừa sáng, mấy nhà thân quen với Lưu gia lần lượt sang giúp.
Người thì giúp nhặt rau rửa rau, người thì giúp mượn bàn ghế bát đũa, thậm chí có người còn giúp chẻ củi.
Mấy tức phụ, bà tử tụ tập ngồi nhặt rau nhưng miệng cũng không rảnh rỗi, mấy người ngồi quây thành một vòng mà tám chuyện.
“Lão tỷ tỷ lâu rồi không gặp, thân thể vẫn khỏe chứ?”
Người lên tiếng là tức phụ trưởng thôn, còn người được chào hỏi chính là đại Tiền thị, đại tỷ của Tiền thị. Hôm trước, Lưu phụ vào huyện, đứng đợi nửa ngày ở cổng thành, rồi nhờ lão thúc đánh xe đưa cả nhà đại Tiền thị đến đây vào hôm qua.
Bây giờ trông đại Tiền thị so với lần Lưu Nha Nhi gặp trước đó thì tinh thần đã khá hơn nhiều.
Đại Tiền thị khẽ mỉm cười, rồi thở dài: “Cũng coi là khỏe… chỉ không biết còn sống được mấy năm nữa, cũng không biết có kịp nhìn tiểu nhi tử cưới tức phụ hay không.”
“Sao thế, tiểu nhi tử của ngươi vẫn chưa đón dâu à?”
“Ai, không sợ đại muội tử ngươi chê cười, tiểu nhi tử của ta hơn ba mươi rồi mà vẫn còn độc thân. Không còn cách nào khác, nhà ta nghèo quá, chẳng có cô nương nào chịu gả tới.”
Tức phụ trưởng thôn đảo mắt một cái, như nghĩ ra điều gì, rồi nói khẽ: “Ta nói chuyện này, lão tỷ tỷ nghe xong cũng đừng nóng giận a! Ở thôn nhà mẹ đẻ ta có một cô nương, năm nay hai mươi tám, vẫn chưa gả đi. Mấy năm trước nhà cô nương ấy cũng từng định hôn sự rồi. Nhưng mới vừa làm tiểu lễ, cha bên nam nhân kia đột ngột bệnh nặng, mấy hôm sau thì mất. Nhà nam nhân kia liền nói cô nương ấy là mệnh chổi quét, mới chỉ tiểu định chưa vào cửa mà đã khắc chết công công tương lai. Thế là họ lui hôn.”
“Nhà cô nương kia cũng từng tới gây chuyện, nói lão gia bên kia vốn thân thể yếu sẵn, tự ông ta bệnh mà chết, vậy mà lại đổ oan lên đầu cô nương. Nhưng nhà nam nhân mặc kệ cô nương nói thế nào, thà bồi thường một lạng bạc cũng phải lui cửa hôn nhân này. Mà cô nương bị hủy hôn rồi thì khó mà tìm được nhà tốt. Vài năm trước lại có người giới thiệu cho một người góa thê. Xui xẻo là, ngay trước ngày thành thân vài hôm, người góa thê đó lên núi săn bắn thì trượt chân gãy chân. Trước đó lời đồn cô nương là sao chổi đã lan ra rồi, lần này người góa thê sống chết cũng đòi hủy hôn! Thế là cô nương kia cứ ở vậy cho đến tận bây giờ. Lão tỷ tỷ, nếu ngươi không ngại, ta có thể làm mai chuyện này!”
“Không ngại, ta sợ gì chứ? Ta đã là người nửa chân xuống đất rồi. Nếu nàng thật sự là mệnh cứng khắc người thì khắc ta cũng được! Ta chết thì chết, miễn nhi tử ta lấy được tức phụ là tốt rồi!” Đại Tiền thị chỉ nghĩ đến việc tiểu nhi tử có thể cưới được tức phụ, chẳng thèm tin cái chuyện mệnh xấu mệnh tốt gì đó.
“Phi phi phi, cái gì mà chết với không chết! Di nãi nãi đừng nói gở như vậy.”
Nương Hạ Mai vừa lặt rau cần vừa nói: “Theo ta thấy, cha bên nhà nam nhân trước kia thân thể vốn đã không tốt, trong người có bệnh nên mới chết. Còn chuyện săn bắn, người bị thương là chuyện quá bình thường. Người góa thê đó tự mình sơ ý ngã gãy chân, sao lại đổ lên đầu cô nương người ta? Nếu cô nương kia thật là sao chổi, cha nương nàng ấy sao vẫn sống khỏe? Một cô nương tốt như vậy, lại bị đám người thích đặt điều làm hỏng thanh danh! Hai ba năm nay rồi, chẳng ai tới hỏi cầu thân nữa!”
Chu Hồng cũng phụ họa, đập đùi nói: “Ta từng gặp cô nương đó rồi, mặt mũi dễ nhìn, làm việc trong ngoài đều giỏi. Ta nói thật nhé, chuyện hai nhà trước không thành, chắc là không có duyên. Giờ nghe nương ta nhắc, ta cảm thấy… cô nương ấy là có duyên với tiểu nhi tử nhà di nãi nãi đó!”
Đại Tiền thị nghe vậy thì mừng rỡ, cười tít mắt, nghĩ thầm: tiểu nhi tử cuối cùng cũng có hy vọng lấy cưới tức phụ rồi.
Bên cạnh, Lưu Nha Nhi nghe nãi nãi và mấy thẩm ngươi một lời ta một câu, mà mắt nhìn choáng váng
Này bát tự còn chưa có trao đổi, mà nghe họ nói cứ như mai là hai người thành thân, đêm tân hôn đến nơi.
Mọi người còn đang nhặt rau, thì ngoài sân vang lên tiếng lách cách, người mượn bàn ghế bát đũa đã quay lại.
Tiền thị nhìn trời, thấy âm u như sắp có tuyết, liền bảo Lưu phụ đem bàn vào trong nhà. Gian chính có thể đặt bốn bàn, hai bàn còn lại đặt trong phòng của Lưu Đông Thanh và Lưu phụ.
Phòng khi tuyết thật sự rơi, mà tiệc rượu lạnh cóng thì khổ.
Bếp nhà Lưu gia đã bốc khói, khách khứa trong sân cũng dần dần tới. Ngoài tiền mừng, ai đến cũng mang theo chút đồ, nhà thì một bát gạo, nhà thì một bó rau.
Tiền thị đều từ chổi tất cả, nói nhà nào cũng khó khăn, cơm no chưa được bao lâu, thêm tháng nữa lại phải lo Tết, nên bà không nhận tiền mừng.
Mọi người không chịu, ai nấy đều nói không thể ăn uống không trả lễ.
Lưu phụ bận tiếp khách, lúc này mới ra khuyên, không nhận tiền mừng đâu, nếu mọi người thấy ngại, sau này lúc nhà Lưu gia cần giúp đỡ, chỉ cần tới giúp một tay là được.
Mọi người lúc ấy mới chịu, nói sau này nếu nhà Lưu gia cần, nhất định sẽ giúp hết sức.
Sau đó mọi người theo Lưu phụ vào nhà. Lưu Nha Nhi, Lưu Đông Thanh và Tần Mục thì bưng trà rót nước, lại mang hạt dưa lạc, bận tối mắt tối mũi.
“Ai nha, tú tài công làm nhà ở ấm quá a!” Một hán tử co ro vì lạnh, vừa vào nhà đã duỗi thẳng cả người.
“Cái giường đất này tốt thật, mùa đông không sợ chăn chiếu lạnh như băng thiết. Giường đất mà đốt lên, cả phòng đều ấm.”
Trương Toàn bốc một nắm lạc, hừ một tiếng: “Hừ, lúc tú tài công xây nhà còn bảo mọi người học theo làm gạch mộc, đắp giường đất để qua đông. Các người không nghe, giờ thì thèm rồi chứ gì?”
Hồ Lão Tam nghẹn cổ, bảy phần tức ba phần ấm ức: “Chẳng lẽ chúng ta không tin tú tài côg? Chẳng qua là tiếc tiền. Lương thực phải giữ đến tháng năm sang năm, lấy đâu ra tiền mà đắp giường đất.”
“Đúng đó, bọn ta đâu như ngươi, rảnh còn lên huyện kiếm việc lặt vặt. Nhưng sang năm, dù có nghèo cũng phải đắp giường đất cho lão nương ta. Bà ấy thân thể yếu, có giường đất mới qua được mùa đông.”
Trương Toàn nhét cả nắm lạc vào miệng, nhai xong mới nói: “Các người a, cứ nói tú tài công đọc sách nhiều thành ngốc, đến trồng trọt cũng không biết. Nhưng nhìn lại xem, năm ngoái lúa mạch bị mưa đá, tú tài công nói lá cây mục đem đốt lên làm phân được, các người còn cười tú tài công. Kết quả thì sao? Lúa nhà tú tài công bón phân lá mục lại tốt nhất. Sau này các người nên nghe tú tài công nhiều hơn!”
“Xì, nói chúng ta, chẳng phải lúc đó ngươi cũng không nghe?” Hồ Lão Tam bĩu môi.
“Nhưng sau này tú tài công bảo làm giường đất, ta làm rồi a! Còn các ngươi, mấy nhà làm được? Toàn nói tiếc tiền, trong khi gạch đất thì tự nặn, chỉ thuê thợ có tí tiền thôi mà!”
“Ngươi …”
Hồ Lão Tam còn định cãi lại, nhưng bị người bên cạnh ngăn. Hôm nay là ngày nhà tú tài công mở tiệc tân gia, không nên sinh chuyện tranh cãi.
Phía các nữ quyến bên này, đều tụ lại trong phòng của Lưu Đông Thanh. Ai nấy ngồi trên giường đất, cảm nhận hơi ấm lan tỏa, thấy thích vô cùng.
Có mấy người trong lòng cũng tính toán, hỏi xem có nên tranh thủ trước Tết mà làm giường đất luôn không.
Trong lúc vừa nói vừa cười, Chu Hồng bưng khay bước vào. Trên khay là hai món nguội: da heo đông lạnh và củ cải chua giòn.
Hai món này là tối qua do Lưu Nha Nhi chỉ đạo làm sẵn.
Da heo đông lạnh thơm béo, dẻo mềm và dai giòn, ăn một miếng là muốn gắp tiếp. Còn củ cải ngâm dấm để qua đêm thì giòn tan, chua ngọt kích thích vị giác.
Món nóng chưa bưng ra, mà hai đĩa nguội đã sạch trơn.
Lúc đầu mọi người còn chưa thấy đói, giờ ăn miếng khai vị xong bụng sôi ùng ục, chỉ mong mau được dọn món chính.
Mong mãi rồi món nóng đầu tiên cũng được bưng lên, theo lệ cũ, món đầu phải là cá chép kho tượng trưng cho may mắn.
Tiếp theo là: đậu nành hầm móng giò, củ cải khô xào trứng, thịt kho dưa cải, thịt muối xào tỏi non, cần tây xào thịt, cải thảo xào, mộc nhĩ thịt xào củ năn, củ sen chua cay, và canh xương hầm củ cải.
Chín món mặn một món canh, ngụ ý thập toàn thập mỹ.
Khi các món nóng đã lên đủ, người trong bếp mới được rảnh tay.
“Ngày hôm nay vất vả cho lão tỷ tỷ, mau ra ngồi ăn tí đồ nóng đi! Đại tỷ, tỷ cũng ra đi, tỷ vốn là khách quý, thế mà còn vào bếp phụ nấu nữa.”
Trần nãi nãi ngồi trên ghế con, không đứng dậy, nói: “Ta không ra đâu, cứ ăn ở bếp này là được rồi.”
“Ta cũng thế, ngoài kia ồn ào lắm, để đám tiểu bối các nàng ngồi.”
Tiền thị vỗ tay lên mu bàn tay họ, nói: “Thế sao được a, các ngươi đều là khách mà! Nào nào, ra bàn ngồi đi!”
Nói rồi, Tiền thị kéo hai người ra ngoài, không để họ từ chối. Trần nãi nãi và Đại Tiền thị đành bất đắc dĩ để Tiền thị kéo đi, miễn cưỡng ngồi vào vị trí trên đầu bàn bên phía nữ nhân.
Khi Tiền thị quay lại bếp, Lưu thị đã chia cơm cho mấy hài tử, người thì ngồi trên ghế, người thì ngồi xổm, bắt đầu ăn uống thỏa thích.
Trong bát của Lưu Đông Thanh và Tần Mục đầy ắp thịt, còn bát của Lưu Nha Nhi thì chất cao toàn cần tây. Đó là món nàng cố tình dặn Trần nãi nãi xào thêm một đĩa.
Nàng vốn mê món cần tây quê, loại này còn gọi là cần thuốc, cây thấp, thân nhỏ, mùi rất nồng, ăn vừa giòn vừa thơm.
Lưu thị múc một bát canh đưa cho Tiền thị. Tiền thị nhấp một ngụm nhỏ rồi nói: “Hôm nay chuẩn bị nhiều món quá, còn dư không ít, lát nữa ngươi với đại tỷ mang về ít đi!”
“Thời tiết này đồ ăn để được lâu, nương cho đại di mang về là được, phần còn lại để nhà mình ăn, ta không lấy đâu.”
Lưu thị cũng múc cho mình một bát canh, rồi nói tiếp: “Nương, ngài không nhận tiền mừng mà còn chuẩn bị bao nhiêu rượu ngon, đồ ăn ngon, thật không cần thiết. Giờ bàn tiệc ở thôn, nhiều lắm cũng chỉ có món cá chép, mấy món còn lại toàn rau xào thêm ít thịt vụn thôi.”
“Nhà mình xây đẹp thế này, mà bày tiệc chỉ cho người ta ăn củ cải với bắp cải sao được! Cũng đúng là tiền xài tốn thật, ngôi nhà này trước sau cũng hết hơn tám mươi lạng bạc, giờ trong tay chẳng còn bao nhiêu, không thì ta còn muốn làm thêm vài món thịt nữa a.”
Nói đến đây, Tiền thị đổi giọng hỏi: “Còn chuyện bảo phu gia ngươi trồng đậu nành, công công ngươi có đồng ý không?”
“Sao lại không a? A Viễn lúc đi tìm Từ Tứ để đặt gạch và thuê thợ, công công con đã biết lời nương nhờ con nói không sai. Công công con bảo sang năm sẽ trồng năm mẫu đậu nành, còn nói với mấy nhà trong thôn, ai muốn trồng thì cùng trồng, đến lúc đó A Viễn sẽ thu mua cao hơn giá thị trường.”
“Thế thì được rồi!”
Hai mẫu nữ đang nói chuyện trong bếp, bên ngoài tiệc rượu, chén tạc chén thù rộn ràng.
Thấy tình cảnh này, khó mà tưởng tượng được nửa năm trước, nhà Lưu gia còn phải lo bữa nay không biết bữa mai.