Miếng thịt kho tàu nửa nạc nửa mỡ vừa vào miệng đã tan ra. Phần mỡ béo mà không ngấy, bì thịt mềm dẻo, dai ngon.
Tiền huyện thừa chưa từng ăn món thịt kho tàu nào ngon đến thế, nhất thời không kiềm được miệng, ăn liền hai miếng. Chợt nhớ ra cả bàn đều là người, trong lòng lập tức chột dạ.
Cũng tại ông ta tham ăn, vừa rồi hẳn là đã mất mặt, để tri huyện đại nhân thấy mà chê cười.
“Tiền bá, ngài nếm thử món cá chép sốt chua ngọt này đi. Vị ngọt đấy, không biết ngài có ăn quen không?”
Tiền bá?
Tiền huyện thừa hoảng hốt. Thiên kim tiểu thư của tri huyện sao lại xưng hô với ông là Tiền bá? Như vậy chẳng phải quá tổn phúc cho ông sao?
“Tiền bá, lúc chúng ta vừa tới Lĩnh Nam có gặp một ông lão, lời ông ấy nói chúng ta chẳng hiểu được câu nào. Nhưng khẩu âm của các vị thì chúng ta lại nghe hiểu được đại khái. Vì sao lại như vậy?”
Lần này người hỏi là Lưu Đông Thanh.
Tiền huyện thừa đặt đũa xuống, giải thích: “Ông lão mà các vị gặp nói phương ngữ bản địa. Chúng ta là người làm việc trong nha môn quan phủ, dĩ nhiên phải học cách nói ngôn ngữ của kinh thành. Nếu không thì gặp những vị như Lưu đại nhân, từ nơi khác đến nhậm chức, chúng ta nói phương ngữ chẳng phải sẽ không thể giao tiếp được sao?”
Thì ra là vậy!
Tiền thị cười nói: “Khẩu âm bản địa của Tiểu Hà nặng hơn của ngươi với Hồ sư gia.”
“Lão phu nhân chê cười rồi. Ta và Hồ sư gia từng học ở phủ thành, sau đó lại lên kinh ứng thí. Tiếp xúc với người tứ phương nhiều, lâu ngày khẩu âm quê nhà cũng nhạt đi không ít.”
“Thì ra là vậy, ta đã nói mà!”
Nhóm huyện thừa vốn nghĩ rằng đại nhân mời họ tới là để hỏi chuyện chính vụ, không ngờ chỉ là trò chuyện chuyện nhà, lại còn được ăn bữa cơm ngon như vậy, tâm trạng căng thẳng cuối cùng cũng thả lỏng đôi chút.
Trong bữa tiệc, phần lớn là người nhà Lưu gia đặt câu hỏi, huyện thừa và những người kia trả lời. Nội dung hỏi nhiều nhất là tình hình dân sinh và phong tục địa phương.
Đột nhiên, Lưu phụ lên tiếng: “Ta biết nơi này coi trọng nam khinh nữ, nhưng hôm nay, ngay tại đây, ta nói rõ, nhà Lưu gia ta không theo lối đó. Ta cũng không sợ các vị cười chê, khuê nữ ta, Nha Nhi là người có trí tuệ lớn và chủ kiến lớn. Sau này nếu Nha Nhi có đưa ra ý kiến gì, các vị đừng vì nàng là nữ nhi mà bác bỏ ngay. Hãy nghe trước đã, rồi suy nghĩ xem có đạo lý hay không.”
“Còn nữa, Nha Nhi nhiều ý tưởng. Sau này nếu nàng có vấn đề gì thỉnh giáo các vị, mong các vị cũng đừng qua loa cho xong. Ta cũng không phải đang hứa hẹn điều gì với các vị. Lần này đã đến Sài Tang, tự nhiên ta mong dân chúng dưới quyền mình có thể an cư lạc nghiệp. Vì vậy, sau này còn mong các vị trợ giúp cho ta!” Nói xong, Lưu phụ là người đầu tiên uống cạn chén rượu trong tay.
Tay cầm chén rượu của huyện thừa và Hồ sư gia hơi run run. Hai người họ đều đã ngoài năm mươi, ở huyện nha Sài Tang này hơn hai mươi năm. Các loại tri huyện họ đã gặp đủ cả, nhưng đây là lần đầu tiên gặp người như thế này.
Không có lời lẽ hào nhoáng, nhưng từng câu từng chữ đều chạm đến tận đáy lòng họ.
Sài Tang của họ, dường như đã có hy vọng.
Trăng đã lên qua ngọn liễu, Tiền huyện thừa và Hồ sư gia sóng vai đi trên con đường vắng vẻ. Gió thổi qua, men rượu của hai người cũng tỉnh đi đôi phần.
“Lão Tiền, ngươi thấy vị Lưu đại nhân này thế nào?”
Tiền huyện thừa ngẩng đầu nhìn vầng trăng khuyết trên trời, không biết đang nghĩ gì. Rất lâu sau mới đáp: “Khó mà kết luận. Nhưng so với những người trước thì tốt hơn rất nhiều. Ít nhất, Lưu đại nhân có hoài bão của riêng mình. Bất kể có thành hay không, ta nhìn ra được ông ấy thật lòng mong dân chúng Sài Tang được an cư lạc nghiệp. Chỉ cần có tấm lòng ấy thôi cũng đã đủ rồi.”
Hồ sư gia vuốt râu, nói: “Nghe nói Lưu đại nhân xuất thân nông hộ, thi đỗ tiến sĩ, khi được điều ra ngoài nhậm chức thì tự nguyện chọn Sài Tang. Nếu là người khác, đã sớm chọn những nơi giàu có rồi. Cho dù chỉ là một huyện thừa bát phẩm, cũng có thể kiếm được chút dầu mỡ. Tấm lòng của Lưu đại nhân thật đáng quý, chỉ tiếc là hai chúng ta năng lực có hạn, nếu không nhất định sẽ dốc sức phụ tá ông ấy một phen!”
“Chẳng phải đúng thế sao! Nếu năng lực hai ta mạnh hơn chút nữa, năm đó cũng đâu đến nỗi thi rớt!” Tiền huyện thừa cười khổ.
Ông cũng có hoài bão, cũng muốn vì quê hương sinh ra và nuôi lớn mình mà góp một phần sức lực. Nhưng rốt cuộc… là ông bất tài.
“Thôi thôi, đừng cảm khái những chuyện vô ích đó nữa. Về sớm nghỉ ngơi đi, ngày mai còn nhiều việc phải bẩm báo Lưu đại nhân.”
Đêm, càng lúc càng sâu.
Lưu Nha Nhi trằn trọc mãi không ngủ được. Trên đường tới đây, nàng từng tá túc trong nhà nhiều thôn dân khác nhau, cũng từng ngủ ngoài trời. Thế mà giờ đây, khi ngủ trong cái gọi là nhà của mình, nàng lại mất ngủ.
Đang độ tháng mười thu vàng, nhưng mùa thu ở Sài Tang lại khác với Tiểu Vương Trang, mang theo vài phần hơi thở của mùa hạ.
Giờ Mão ba khắc, mặt trời đã lên cao.
Tiền huyện thừa và Hồ sư gia ôm một chồng sổ sách, vừa bước vào đại sảnh thì đã thấy Lưu đại nhân ngồi ngay ngắn sau án thư, đang lật xem một cuốn sách.
Tân quan nhậm chức thường có ba đốm lửa, Lưu đại nhân chăm chỉ, muốn nhanh chóng nắm rõ công việc trong huyện, điều này họ có thể hiểu. Nhưng điều khiến họ bất ngờ là, ngồi phía bên kia án thư lại là thiên kim của Lưu gia.
Những lời Lưu đại nhân nói ngày hôm qua, họ có nghe, nhưng không để trong lòng. Nào ngờ hôm nay ông lại thật sự đưa nữ nhi đến cùng xử lý công vụ.
“Bẩm đại nhân, đây là một số sổ sách thu chi của huyện.”
“Còn đây là các án quyển và hồ sơ lưu trữ của huyện.”
“Đây là danh sách những người hiện đang tại chức trong nha môn.”
“Còn đây là…”
Từng quyển hồ sơ, từng chồng sổ sách được đặt lên án thư, Lưu Nha Nhi tiện tay lật một cuốn sổ thu chi.
Không xem thì thôi, vừa xem đã giật mình.
“Tiền bá, ngài đã bao lâu rồi chưa phát bổng lộc?”
“Hạ quan đã ba tháng chưa được phát bổng lộc rồi. Cũng chính vì không phát nổi bổng lộc nên chủ bạ, dịch trạm, bộ khoái và phu đánh xe trong huyện nha đều tự đi tìm việc khác làm! Có điều nay đại nhân đã tới, hạ quan đã sai người đi mời họ về rồi!” Nếu bổng lộc còn chậm thêm ba tháng nữa, đến ông cũng phải đi tìm đường sống.
“Triều đình không cấp tiền sao?”
Tiền huyện thừa bất lực lắc đầu: “Đừng nói đến cấp tiền, ngay cả số thuế phải nộp theo quy định cũng không đủ. May mà nơi này quá hẻo lánh, quá xa xôi lại quá nghèo, triều đình cũng không truy cứu trách nhiệm.”
“Trong vòng hai mươi năm, thành Sài Tang lại thay đến mười ba vị tri huyện?” Lưu phụ lật xem hồ sơ trong tay mà kinh hãi.
Hồ sư gia trước tiên chắp tay thi lễ, kính cẩn đáp: “Bẩm đại nhân, Sài Tang địa thế xa xôi, sinh hoạt lại nghèo khó. Các tri huyện từng đến nhậm chức phần lớn là chịu không nổi khổ cực nơi này, hoặc cảm thấy nơi đây không có chút chuyển cơ nào, nên đều tìm cách điều đi. Lâu dần, Sài Tang càng ngày càng nghèo. Dân chúng không có kế sinh nhai, các thương hộ trong thành cũng chẳng buôn bán được, đều dọn đi nơi khác.”
“Bản quan xem ghi chép trong hồ sơ, mấy năm gần đây huyện ta không có thiên tai, cũng không có sưu cao thuế nặng. Vậy vì sao lại đến mức không đủ ăn? Chẳng lẽ dân cày trong huyện không trồng lúa?” Lưu phụ cũng xuất thân nông hộ, ông biết nếu không có thiên tai, thuế khóa không hà khắc, chỉ cần chịu khó canh tác thì dù thế nào cũng không đến mức đói bụng.
“Đại nhân có điều không biết, trước khi tân hoàng kế vị, thuế má rất nặng. Đất đai ở Sài Tang đều là đất đỏ, độ phì kém, hoa màu trồng lên vốn đã chẳng thu được bao nhiêu. Mỗi năm thu hoạch xong, nộp hết thuế rồi, trong nhà cũng chỉ còn lại vài hạt để bỏ nồi.”
Lưu phụ trầm ngâm suy nghĩ, hỏi: “Nha Nhi, đất đỏ có trồng được cải dầu không?”
“Trồng thì trồng được, nhưng sản lượng e là không bằng Tiểu Vương Trang.”
Cải dầu? Cải dầu là rau gì? Có ngon không?
Tiền huyện thừa và Hồ sư gia đều lén suy đoán cải dầu rốt cuộc là thứ gì, bởi họ chưa từng nghe nói tới.
Lưu phụ khép lại quyển hồ sơ, nói: “Gọi Mục nhi tới đánh xe, Tiền huyện thừa dẫn chúng ta đi xem các thôn làng.”
Hiện giờ đang đúng mùa gieo trồng cải dầu, nếu đất đai nơi này có thể trồng được, thì số hạt giống cải dầu mang theo phải nhanh chóng phát xuống các thôn.
“Đại nhân, ngài đây là…?”
Là cái gì là cái gì? Hồ sư gia trừng mắt liếc Tiền huyện thừa một cái, thầm mắng hắn đúng là không có mắt nhìn.
Nhận được ánh mắt của Hồ sư gia, Tiền huyện thừa vội nói: “Hạ quan lập tức đi sắp xếp!”
Tần Mục đánh xe, Tiền huyện thừa và Hồ sư gia ngồi ở hai bên mép ngoài xe, còn hai cha con Lưu gia ngồi trong xe.
Trên đường đi, Lưu Nha Nhi vén rèm cửa sổ. Bên ngoài là một vùng hoang dã mênh mông vô tận.
Qua tấm rèm, Lưu Nha Nhi hỏi Tiền huyện thừa: “Nhiều đất đai như vậy là vốn dĩ đã bị bỏ hoang, hay là sau này mới hoang hóa?”
“Bẩm tiểu thư, những thửa đất ven đường này ban đầu cũng có người canh tác. Nhưng sau đó triều đình tăng thêm các loại thuế, dân chúng vất vả trồng trọt cả một mẫu đất, thu hoạch còn không đủ để nộp thuế, đành bỏ luôn việc cày cấy. Lâu dần, đất canh tác liền nối với đất hoang ở xa, trở thành hoang địa thật sự.”
Lưu Nha Nhi à một tiếng, lại hỏi: “Các thôn làng thuộc quyền quản lý của Sài Tang đều như vậy sao?”
“Ừm… đều gần như thế cả.” Giọng Tiền huyện thừa rất khẽ.
Lưu Nha Nhi không nói thêm gì nữa.
“Hu —”
Sau hai khắc đồng hồ, xe ngựa dừng trước cổng một thôn làng. Mọi người xuống xe, đi bộ vào trong thôn.
Lưu Nha Nhi đưa mắt nhìn khắp nơi, trong lòng không khỏi chua xót. Những căn nhà đất trong thôn rách nát đến không chịu nổi, có mấy căn thậm chí đã sụp đổ.
Có thôn dân nghe thấy động tĩnh liền tìm tới, thấy người đến lạ mặt, lại ăn mặc tươm tất, bèn tiến lên hỏi xem họ tìm ai.
Người đó nói phương ngữ địa phương, Lưu Nha Nhi nghe không hiểu. Chỉ thấy Hồ sư gia líu lo trao đổi với người kia một hồi, rồi dẫn mọi người theo thôn dân đi về phía một căn nhà.
Người ở trong căn nhà ấy chính là thôn trưởng của thôn Hà Loan. Thôn trưởng nhận ra Tiền huyện thừa, vừa thấy họ đến liền hành lễ.
Không biết Tiền huyện thừa đã nói gì với thôn trưởng, mà sau khi nghe xong, thôn trưởng kinh hãi, vội vàng quỳ xuống, vừa hướng về phía Lưu phụ vừa nói liên hồi bằng phương ngữ.
“Lưu thôn trưởng, mau mau đứng dậy!”
Lưu phụ đỡ người đứng lên, bảo Tiền huyện thừa và Hồ sư gia làm phiên dịch, rồi hỏi thăm tình hình trong thôn.
Cuối cùng mới biết, thôn Hà Loan vốn là thôn lớn nhất trong vòng trăm dặm, nay số người còn ở lại thôn chưa tới một trăm.
Theo ý của Tiền huyện thừa, thôn trưởng lại dẫn mọi người ra đồng ruộng.
Ngoài ruộng nước trồng lúa, trên đất khô chỉ lác đác trồng vài loại rau và đậu.
Lưu Nha Nhi mắt tinh, nhìn thấy ở góc một thửa ruộng có loại cây trông như cỏ dại nhưng vô cùng quen mắt. Đến gần nhìn kỹ, nàng hưng phấn đến mức suýt đập đùi. Trời ơi, chẳng phải đây là mía sao!
Nàng, một người của thế kỷ XXI, vậy mà lại quên mất Quảng Tây chính là tỉnh trồng mía lớn nhất! Kiếp trước, mỗi mùa thu hoạch, trên mạng đầy rẫy những đoạn video sinh viên về Quảng Tây chặt mía.
Đất đỏ Sài Tang trồng lương thực cho sản lượng thấp, nhưng trồng cây ăn quả thì lại hợp. Chỉ tiếc giao thông thời cổ đại không thuận tiện, e là hoa quả còn chưa vận chuyển tới nơi đã thối rữa hết.
Ngoài trồng cây ăn quả, Quảng Tây còn thích hợp nhất là trồng mía. Mía dùng để chế đường, mà đường thời cổ đại thì quý vô cùng. Xem ra nàng sắp phát tài rồi!
“Nha Nhi, con nhận ra thứ này sao?”
Lưu Nha Nhi quay đầu đáp: “Cha, thứ này gọi là mía, vị ngọt.”
“Tiểu thư thật là hiểu biết! Đây đúng là mía, dùng để chế thạch mật. Nhưng loại mía này đốt ngắn nhiều mắt, ép chẳng được bao nhiêu nước. Phơi nắng làm một khối thạch mật cần tới mấy chục cây mía, không có lời. Trong thôn cũng chỉ lác đác vài hộ trồng cho trẻ con nếm vị ngọt thôi.”
Đúng như lời Tiền huyện thừa nói, cây mía này cả cây chỉ cao nửa người, lá cành rậm rạp, lại đầy đốt. Nếu không nhìn kỹ, chỉ tưởng là một bụi cỏ dại, khác xa mía đời sau, dùng để chế thạch mật quả thật không đáng.
Lưu Nha Nhi phủi đất trên váy, bước tới bên cha, ghé tai nói nhỏ mấy câu.
Lưu lão gia hiểu ý, nói: “Tiền huyện thừa, Hồ sư gia, hôm nay tạm xem tới đây thôi. Trở về phủ!”