Trong hậu viện nha môn, Lưu Nha Nhi nhìn đống ngải khô và cúc khô trong cái rổ, trong lòng không khỏi khó xử.
Chỉ vì để làm nhang muỗi thủ công, cần có bột xương cá. Trước kia nàng không để ý đến chuyện này, mỗi lần ăn cá xong thì xương cá đều đem vứt cho mèo hoang ăn. Thứ này lại chẳng có chỗ nào bán, khiến Lưu Nha Nhi lo lắng vô cùng.
Tiền thị mang chăn ra phơi trong sân, quay đầu lại liền thấy bộ dạng của tôn nữ, bèn hỏi: “Nha Nhi sao thế này? Nhăn mày ủ rũ, chẳng lẽ là Mục nhi bắt nạt con?”
“Hắn nào dám bắt nạt con? Là con nghĩ ca ca ở trong núi, muỗi mòng ắt là nhiều, nên muốn làm ít nhang muỗi. Nhưng làm nhang muỗi lại cần xương cá, mà thứ này thì chẳng có chỗ nào bán!”
“Ta tưởng là chuyện gì to tát! Con cũng đâu cần gấp trong lúc này. Cùng lắm sau này chúng ta mua cá ăn nhiều hơn, giữ lại xương cá là được. Nếu vẫn không ổn, ta đi nói với hàng xóm láng giềng một tiếng, nhà ai ăn cá thì để lại xương cá cho ta.”
Tiền thị bật cười, nhìn gương mặt nhỏ đang cau lại của tôn nữ, bà còn tưởng là chuyện khó khăn ghê gớm lắm.
Lưu Nha Nhi nghe vậy, thấy đúng là một cách hay, liền nở nụ cười: “Vẫn là nãi nãi lợi hại, cháu lại không nghĩ ra!”
“Con đó, trong lòng chất chứa quá nhiều việc. Việc này việc kia chồng chất, sao mà nghĩ xuể. Thôi được rồi, đừng lo nữa. Ta ra chợ mua thức ăn, tiện mua một con cá về luôn, Nha Nhi có đi cùng không?”
Lưu Nha Nhi lật lại đống ngải và cúc một chút, lắc đầu: “Cháu không đi, lát nữa cháu phải sang chỗ thợ mộc một chuyến.”
“Được, vậy con tự chú ý cẩn thận, nghe chưa!”
“Vâng!”
Trong tiệm thợ mộc ở đầu ngõ cuối phố, thợ mộc Hà đang bào gỗ. Nghe thấy tiếng bước chân, ông ngẩng đầu lên, liền thấy một thiếu nữ tươi sáng đứng đó.
Lưu Nha Nhi, thợ mộc Hà có quen biết. Những thùng gỗ dùng để ủ nước tương trong xưởng đều đặt ông làm. Lưu tiểu thư này chính là khách lớn, không biết lần này tới lại muốn đặt làm vật gì, liền hỏi: “Lưu tiểu thư sao lại tới đây? Có phải muốn đóng đồ gỗ gì không?”
“Chào sư phụ Hà, lần này ta không đóng đồ, ta muốn mua một ít mùn cưa.”
Nghe nói là mua mùn cưa, thợ mộc Hà liền ngạc nhiên. Thứ này chẳng có tác dụng gì, dùng làm củi đốt còn chê khói nặng, bèn nói: “Thứ này mà ngươi còn phải bỏ tiền mua sao? Ngươi cần bao nhiêu, ta lấy cho.”
“Vậy thì ta dày mặt cảm ơn sư phụ Hà rồi!” Lưu Nha Nhi cười, đưa túi vải trong tay ra.
“Khách sáo quá, có đáng gì đâu mà cảm ơn. Gỗ này còn chưa khô, mùn cưa cũng ẩm, nặng lắm. Ta để đồ đệ mang giúp ngươi về.” Thợ mộc Hà đổ đầy mùn cưa xong, liền quay vào trong gọi tên đồ đệ.
Lưu Nha Nhi vội xua tay: “Không cần không cần, ta tự làm được, không làm phiền việc của sư phụ, ta về ngay đây.”
Chỉ nghe Lưu Nha Nhi “hây da” một tiếng, hai tay ôm lấy túi mùn cưa, dồn hết sức lực.
Kết quả là nhấc được lên, nhưng suýt nữa thì ngã chúi về phía trước.
Đồ đệ của thợ mộc Hà mắt nhanh tay lẹ, nhưng không dám đỡ Lưu Nha Nhi, chỉ nhanh tay giật lấy túi mùn cưa trong tay nàng, vác lên vai: “Lưu tiểu thư, để ta đưa ngươi về phủ.”
“Vậy… vậy thì làm phiền tiểu ca rồi.” Lưu Nha Nhi cười ngượng ngùng.
Mùn cưa ẩm vừa được đổ ra trải trên tấm bạt dầu, thì Tiền thị cũng xách giỏ rau về. Ngoài ra, trong tay kia của bà còn có thêm một cái thùng gỗ nhỏ. Lưu Nha Nhi nhớ rõ, lúc bà ra ngoài chỉ mang theo giỏ rau mà thôi.
Lưu Nha Nhi chạy tới giúp xách đồ, nhìn rõ thứ trong thùng gỗ liền giật mình, hỏi: “Nãi nãi, sao nãi nãi còn mua cả một con ba ba già thế này?”
“Ta đâu có mua. Là tức phụ của Hồ lão đại ở thôn ven sông vừa hay bán cá ở chợ, gặp ta liền nhất quyết tặng con ba ba này. Nói là cha con vì Sài Tang vất vả cực nhọc, con ba ba này là biếu để bồi bổ thân thể cho cha con.”
Hồ lão đại là người mà Lưu Nha Nhi từng nghe nói tới. Trong số những hộ trồng mía năm nay có nhà hắn, hơn nữa ruộng nhà hắn là nhiều nhất, vừa trồng đã là mười lăm mẫu. Chỉ là, Lưu Nha Nhi không hiểu vì sao tức phụ Hồ lão đại lại nghĩ đến chuyện tặng ba ba.
Tiền thị dường như nhìn ra sự nghi hoặc của tôn nữ, liền nói: “Nghe nói trước đây cả nhà Hồ lão đại đều đi tha hương tránh nạn đói, ở ngoài làm thuê hái quýt cho người ta, đến chỗ ở cố định cũng không có. Sau này có người trong thôn mang tin cho họ, kể về sự tích của cha con, họ nửa tin nửa ngờ mới quay về Sài Tang. Không ngờ hai năm nay nhờ trồng cải dầu và đậu nành, lại thật sự dành dụm được một khoản tiền. Thế nên để cảm ơn cha con, họ nhất quyết biếu ta con ba ba này.”
Lúc này Lưu Nha Nhi mới hoàn toàn nhớ ra Hồ lão đại là ai, chẳng phải chính là Hồ lão đại năm xưa dùng vôi để cải tạo đất đó sao. Xem ra người này quả thật là kẻ có gan có quyết đoán.
“Nhưng ta nào có thể thật sự nhận không của người ta? Ba ba đắt giá lắm. Ta không tiện thẳng thừng từ chối tấm lòng của nàng ta, lại nghĩ cha con ngày ngày bận rộn công vụ quả thật rất vất vả, nên ta liền mua hết cá ở sạp của nàng ta. Tính ra như vậy cũng không phải là lấy không.”
Lúc này Lưu Nha Nhi mới để ý, trong giỏ rau có đến hơn phân nửa là cá.
“Nhiều cá thế này, ăn sao cho hết?”
“Ướp muối rồi phơi khô, có thể để được khá lâu, cũng không sợ hỏng. Đúng lúc con đang cần xương cá mà. Tối nay ta làm cá nhiều một chút, gọi cả Tiền huyện thừa bọn họ tới ăn cơm. Dạo này vì chuyện sửa đường, ai nấy đều mệt không nhẹ!”
“Nãi nãi, vậy tối nay để cháu nấu cơm nha!” Lưu Nha Nhi xách thùng cá vào hậu trù, rồi sang sảnh thông báo với Tiền huyện thừa chuyện tối nay ở lại dùng bữa. Xong xuôi lại ra hậu viện, cùng Tiền thị xử lý đống cá vừa mua về.
Đám cá này đều là cá tự nhiên. Ngoài mấy con cá trắm cỏ và cá mè hoa nặng ba bốn cân, còn có một con cá lóc cỡ vừa và một con cá mè đầu to, còn lại đều là cá tạp nhỏ. Nào là cá diếc nhỏ chỉ dài bằng ngón tay, cá nhồng mỏ nhọn dài chưa đến nửa chiếc đũa, những con cá nhỏ xíu chưa bằng ngón tay và vài loại cá không rõ tên, mãi không lớn.
So với cá lớn, Lưu Nha Nhi lại thích cá tạp nhỏ hơn. Các loại cá nhỏ này không cần phân biệt kích cỡ hay chủng loại, cứ cho tất cả vào nồi hầm chung, vị ngon thì khỏi phải nói. Chỉ có điều xử lý cá tạp nhỏ thì quá phiền phức.
“Nãi nãi, mấy con cá để ướp phơi khô, ta chặt bỏ đầu cá đi nha, vừa hay tối nay đem nấu đậu phụ. Chứ đem phơi, đầu cá khô lại chỉ còn cái vỏ rỗng.”
“Được, để bà chặt đầu cá. Nhưng trong nhà lại không có đậu phụ.”
Lưu Nha Nhi nhìn đống cá đầy đất, nghĩ ngợi một chút rồi nói: “Vậy giờ cháu đi mua hai bìa đậu phụ về, tiện mua thêm một ít dưa cải chua. Tối nay chúng ta làm một bữa tiệc toàn cá nha!”
Tiệc toàn cá? Đó lại là bữa tiệc gì nữa đây?
Đầu cá chặt xuống, rửa sạch rồi để ráo nước. Dầu cải trong nồi đun đến khi bốc khói trắng, cho đầu cá vào chiên sơ, sau đó đổ nước lạnh ngập đầu cá, cho thêm gừng thái lát và đậu phụ cắt miếng, dùng lửa lớn đun sôi.
Nhân lúc hầm đầu cá, Lưu Nha Nhi lại thái thịt cá thành lát mỏng, cho vào bát ướp gia vị.
Đợi nồi canh đầu cá đậu phụ sôi lên, múc sang nồi đất, đặt lên bếp nhỏ lửa hầm tiếp.
Trong chảo khác, dầu nóng, cho đuôi cá lóc và xương cá vào chiên đến khi hai mặt vàng đều, vớt ra để riêng. Dùng chính lượng dầu đó, cho gừng, tỏi, hoa tiêu vào phi thơm, rồi cho dưa cải chua đã thái vào xào cho ráo nước. Sau đó cho xương cá đã chiên vào, thêm nước sôi, nấu đến khi nước canh chuyển sang màu trắng sữa, rồi cho cá đã ướp vào, nấu thêm một lát là có thể nhấc xuống.
Rắc hành hoa đã thái nhỏ và hạt thù du giã dập lên trên mặt cá, dội dầu nóng vào, chỉ nghe “xèo” một tiếng. Vị cay nồng của thù du, mùi thơm của hành, hòa cùng vị chua của dưa cải và vị ngọt tươi của cá, tất cả đều được kích thích bùng lên, lan tỏa khắp gian bếp.
“Trời đất ơi, đại tiểu thư làm món gì thế này? Rõ ràng mùi cay xộc lên cổ họng, sặc đến khó chịu, vậy mà lại thơm không chịu nổi.” Tiền huyện thừa vừa tan ca đã chui thẳng vào bếp, muốn xem có thể giúp được gì không. Đại nhân thường xuyên giữ bọn họ lại ăn cơm, ông cũng thấy ngại trong lòng.
Lơu Nha Nhi lại đổ thêm chút dầu vào nồi, đáp: “Món này gọi là cá nấu dưa chua, vừa chua vừa cay lại vừa tươi, đảm bảo Tiền bá sẽ thích.”
“Ồ? Lão Tiền thích cái gì?” Hồ sư gia cũng ló đầu bước vào.
“Lão phu nhân an khang, đại tiểu thư an khang! Lão phu tới nhóm lửa!” Hồ sư gia vừa nói vừa định xắn tay vào giúp.
Tiền thị xua tay: “Đi đi đi, nấu một bữa cơm mà cần lắm người thế sao? Hai ngươi ra ngoài sân ngồi đi, nấu thêm nồi cá tạp nhỏ với xào hai món rau là có thể dọn cơm rồi!”
“Xèo —” Một chậu cá tạp nhỏ được đổ vào chảo dầu nóng, phát ra tiếng xèo xèo vui tai.
Lật cá sang mặt kia, Lưu Nha Nhi cũng nói: “Tiền bá, Hồ bá, hai người ra ngoài ngồi đi! Ở mãi trong cái bếp nhỏ này, xoay người cũng không nổi. Nếu hai bá thật sự muốn giúp, thì giúp ta thu mấy bó lá ngải khô với hoa cúc ngoài sân nhé!”
“Được, ta đi thu giúp cho!”
Đợi Tiền huyện thừa và Hồ sư gia ra khỏi bếp, Tiền thị lại nhét thêm củi vào bếp lò, cười nói: “Con đó, đúng là giỏi sai bảo người khác!”
Lưu Nha Nhi không cho là đúng, liền giải thích: “Nãi nãi, cái này không gọi là sai khiến. Người ta thường nói ăn của người thì ngắn tay, nhận ân huệ thì mềm lòng. Tiền bá và Hồ bá vốn là thuộc hạ của cha con, cha cũng hay giữ họ lại ăn cơm. Một hai lần thì không sao, nhưng nhiều lần rồi, trong lòng họ thế nào cũng thấy áy náy.”
“Họ thành tâm muốn giúp, những việc nhỏ như thu lá ngải thế này, để họ làm cũng được. Một là coi như họ giúp được chút việc, hai là trong mắt họ, nhà mình không xem họ là người ngoài. Như vậy, quan hệ tự nhiên cũng thân thiết hơn.”
Đậy nắp nồi lại, Lưu Nha Nhi kéo một chiếc ghế nhỏ ngồi cạnh Tiền thị, tiếp lời: “Cha con tuy là tri huyện, nhưng rốt cuộc cũng là người từ nơi khác tới. Người ta vẫn nói cường long bất áp địa đầu xà. Lỡ sau này thật sự gặp phải những người địa phương không nói đạo lý, cần phải giàn xếp đôi co, chẳng phải phải nhờ đến những người như Tiền bá, Hồ bá đứng ra xử lý hay sao. Không lẽ bất kể đúng sai, cứ phạm tội là tống hết vào đại lao? Hơn nữa, cha con cũng không phải là người lạm quyền.”
“Con đúng là ranh ma!”
Nói xong, Tiền thị lại thở dài: “Cũng không biết cha con còn ở Sài Tang được mấy năm nữa. Theo lẽ thường, con và A Mục đã đính hôn rồi, mấy món hồi môn như giường bước bộ, bàn trang điểm gì đó, đáng lẽ nên nhờ thợ mộc làm sớm. Nhưng ta lại sợ giường mới đóng được nửa chừng thì cha con đã bị điều đi nơi khác.”
“Nãi nãi, chuyện đó không cần vội. Con còn muốn ở nhà bồi ngài thêm mấy năm nữa kia! Dù sao con và Tần Mục cũng đã đính hôn rồi, chẳng lẽ còn sợ huynh ấy chạy mất sao!”
Tiền thị vỗ nhẹ một cái lên bắp chân Lưu Nha Nhi, cưng chiều mắng yêu: “Toàn nói linh tinh! Con không vội, chứ A Mục bò thêm một năm nữa là mười chín rồi, nó không vội sao?”
“Huynh ấy vội cái gì chứ, con lại đâu có chạy. Phải không nãi nãi?”
Nghe vậy, Tiền thị vừa tức vừa buồn cười. Cười xong lại thấy xót xa. Tôn nữ bà không có nương, sắp mười tám tuổi đầu rồi mà chuyện nam nữ vẫn mù mờ chẳng biết gì. Xem ra bà phải tìm dịp nói chuyện với Nha Nhi, kẻo đến lúc hai đứa thành thân, vào động phòng rồi mà cả hai đều hai mắt tối thui, chẳng biết phải làm sao.